nhà kẻ truyền

Nhà kẻ truyền là gì ?

Nhà kẻ truyền là tên gọi khá quen thuộc về kiểu nhà ở truyền thống ngày xưa của người dân Bắc Bộ. Tuy nhiên, ngày nay, do nhiều công trình kiến trúc hiện đại, biệt thự mọc lên khắp nơi, khiến nhiều bạn trẻ không biết nhà kẻ truyền là gì? kết cấu nhà kẻ truyền như thế nào? Vậy, trong nội dung bài viết hôm nay, Nhà Thờ Họ sẽ giúp bạn tìm hiểu những thông tin liên quan đến kiến trúc này.

Nhà kẻ truyền là gì?

Nhà kẻ truyền là gì?

 

Nhà kẻ truyền hay nhà gỗ kẻ truyền là loại hình nhà ở truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam. Đây là loại hình nhà ở được xây dựng chủ yếu tại vùng đồng bằng Bắc Bộ. Kiểu nhà này thường được thiết kế theo kiểu nhà chia thành từng gian, khung nhà, kèo, cột…

Sử dụng chất liệu bằng gỗ tự nhiên như gỗ lim, gỗ sên, gỗ xoan, gỗ mít. Mái nhà lợp ngói đỏ kết hợp cùng sân vườn rộng rãi tạo thành một tổng thể kiến trúc mộc mạc, thơ mộng, đậm chất đồng bằng Bắc Bộ. Và các mẫu biệt thự nhà vườn hiện nay cũng lấy ý tưởng từ kiến trúc nhà ở truyền thống này.

Phân loại nhà kẻ truyền

Nhà kẻ truyền là kiểu nhà 1 tầng và được phân loại thành nhiều loại khác nhau, tuy nhiên họ đều lấy tiêu chuẩn phân chia theo số lượng gian nhà làm cách chia chính. Cụ thể nhà gỗ kẻ truyền được chia thành các loại sau:

  • Nhà kẻ truyền 3 gian
  • Nhà kẻ truyền 4 gian
  • Nhà kẻ truyền 5 gian
  • Nhà kẻ truyền 6 gian.
  • Nhà kẻ truyền 3 gian 2 chái
  • Nhà kẻ truyền 5 gian hai chái…vv

“Chái” ở đây chính là phần buồng ngủ ở hai bên gian nhà chính. Ví dụ nhà 5 gian 2 chái là nhà gồm 3 gian chính giữa rộng rãi là nơi đặt phòng thờ, phòng khách, 2 gian bên ngoài (2 chái) dùng làm phòng ngủ.

Kết cấu nhà kẻ truyền

Nhà kẻ truyền sử dụng kết cấu cột rất vững chãi, bền bỉ theo thời gian, chống chọi được với thời tiết mưa bão và nắng nóng quanh năm của miền bắc.

Hệ thống cột

Hệ thống cột

 

Nhà kẻ truyền bao gồm hệ thống các loại cột khác nhau như cột cái, cột con, cột hiên, cột hậu… Trong đó, cột cái là cột chính có chức năng là khung và chống đỡ cho toàn bộ ngôi nhà. Cột này được dựng ở 2 đầu nhịp chính. Tiếp đến là cột con dùng làm bệ đỡ không gian.

Cột hậu là cột phụ có tác dụng giảm tải sức nặng cho cột chính, nó được nằm tại 2 bên nhịp chính và đầu nhịp phụ. Cột hiên được đặt ở mặt tiền trước nhà, còn cột hậu sẽ nằm phía sau nhà.

Hệ thống xà

Hệ thống xà

 

Hệ thống xà của kiểu nhà truyền thống này được chia thành xà nằm trong khung và xà nằm ngoài khung. Trong đó, xà nằm trong khung được thiết kế ở độ cao đỉnh của các cột con kết nối với cột cái. Xà dùng để gắn cột cái của khung được gọi là xà chếch hoặc xà lòng. Khi thiết kế hệ thống xà, gia chủ cần tính toán tỉ mỉ, cẩn thận thì mới tạo nên sự cân đối, hài hòa và không bị lệch trọng lượng.

Hệ thống kẻ

Hệ thống kẻ

 

Hệ thống kẻ hay còn gọi là dầm đơn được dùng với mục đích liên kết hệ thống cột thông qua mộng. Nó được thiết kế theo đường chéo của mái nhà, phân thành kẻ ngồi và kẻ hiên. Kẻ ngồi dùng để gắn kết các cột cột hậu và cột cái lại với nhau.

Hệ thống con lợn

Hệ thống con lợn hay rường bụng lợn là cái tên rất thân thuộc với cuộc sống của người dân Bắc Bộ. Bộ phận này được đặt lên con rường bên dưới thông qua trụ trốn (2 đoạn cột ngắn) nhằm mục đích đỡ xà nóc. Bên dưới là phần ván, nơi thợ điêu khắc chạm trổ trang trí hoa văn.

Hệ thống con rường

Con rường là bộ phận gối nâng đỡ mái nhà. Dầm gỗ hộp dùng để nâng đỡ hoành mái được sắp xếp chồng lên nhau. Như vậy, chiều dài của con rường sẽ được thu ngắn lại tới khi phù hợp với chiều vát của mái nhà. Nghĩa là con rường khi được đặt ở trên thì sẽ ngắn lại.

Hệ thống rường cụt

Hệ thống rường cụt là bộ phận nằm ở giữa cột cái và cột hậu. Rường cột được đặt chồng lên trên xà lách, có nhiệm vụ chính là đỡ hoành. Càng lên cao thì chiều dài của nó sẽ càng ngắn lại.

Kết cấu mái

Kết cấu mái

 

Kết cấu của mái bao gồm: Hoành, rui, ngói mũi, gạch màn. Mỗi một bộ phận sẽ đảm nhận một vai trò khác nhau. Mái là phần che mưa nắng cho ngôi nhà, nó tiếp xúc trực tiếp với mặt trời, do đó, gia chủ cần lựa chọn loại gỗ tốt để làm hoành, rui để đảm bảo độ bền và chắc khỏe cho mái.

Kiến trúc nhà kẻ truyền phổ biến ở nước ta

Như chúng tôi đã đề cập ở trên, nhà gỗ kẻ truyền được phân loại theo số lượng gian ở, trong đó loại nhà gỗ kẻ truyền 3 gian, nhà 3 gian 2 chái, nhà 5 gian là có số lượng nhiều hơn cả. Vậy nên, nội dung tiếp theo của bài viết, chúng tôi sẽ giới thiệu đôi chút về những mẫu nhà này.

Nhà kẻ truyền 3 gian

Nhà kẻ truyền 3 gian

 

Nhà kẻ truyền 3 gian được thiết kế gồm 6 cột. Tính  từ ngoài vào trong các cột sẽ được sắp xếp như sau: cột hiên, cột con, cột cái, cột cái, cột con và cột hậu. Kích thước nhà gỗ kẻ truyền 3 gian phụ thuộc vào diện tích của từng mảnh đất.

Nhưng thông thường lòng nhà rộng 5,15m, khoảng cách gian giữa là 2,75m, gian bên là 2,7m, phần mái tàu cao 2,35m. Kiểu nhà này được chạm trổ đường nét, hoa văn tinh tế, họa tiết rất đặc sắc, đối xứng nhau và luôn đảm bảo là phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng vùng miền và thời đại xây dựng.

Tùy thuộc vào loại gỗ gia chủ lựa chọn mà nhà kẻ truyền 3 gian sẽ mang những màu sắc khác nhau. Có thể là màu nâu sẫm, nâu nhạt hay màu vàng cánh gián…

Nhà kẻ truyền 3 gian 2 chái

Nhà kẻ truyền 3 gian 2 chái

 

Nhà 3 gian hai chái là ngôi nhà gồm 3 căn phòng chính và cơi nới thêm 2 phòng nhỏ hai bên. Gian ở giữa là gian chính thường sử dụng làm nơi thờ tự, được bày biện nội thất gồm một bộ bàn thờ cúng tổ sư, 1 bộ bàn ghế tiếp khách, hay sập ngụ tủ chè. hai gian kế bên, thường sử dụng làm nơi nghỉ ngơi, đặt giường hoặc phản. Còn 2 gian nhỏ ngoài cùng là phòng ngủ của chủ nhà và khách hoặc họ hàng tới chơi.

Ngôi nhà kẻ truyền 3 gian 2 chái

 

Ngôi nhà kẻ truyền 3 gian 2 chái này sử dụng nguyên liệu gạch ngói xi măng và gỗ thể hiện được vẻ đẹp truyền thống nhưng không hề xưa cũ. Phần mái sử dụng hệ mái ngói đỏ truyền thống. Độ dốc, độ thoải của mái cao hơn so với những thiết kế nhà cấp 4 thông thường. Đặc biệt, nếu gia chủ sử dụng mẫu nhà này làm nhà thờ họ thì phần mái ngói sẽ làm tương tự như kiểu mái đình truyền thống.

những ngôi nhà ba gian 2 chá

 

Với những ngôi nhà ba gian 2 chái tuy có diện tích không quá lớn, nhưng nếu bạn chưa từng thăm quan nhà này thì lần đầu tiên bước vào sẽ cảm thấy khá choáng ngợp với kiểu cách, trưng bày bên trong.

Mẫu nhà kẻ truyền 5 gian

Mẫu nhà kẻ truyền 5 gian

Bên cạnh số lượng vượt trội của nhà gỗ kẻ truyền 3 gian thì nhiều gia chủ lại thích mẫu nhà kẻ truyền 5 gian. Tuy nhiên, để làm nhà này, gia chủ cần sở hữu khu đất có diện tích đủ lớn để đảm bảo không gian thoáng mát, rộng rãi. Bên cạnh đó, chi phí để xây dựng nhà 5 gian là không hề nhỏ, do đó nhiều gia đình đã chọn gỗ xoan để giảm chi phí xây dựng.

Nhà kẻ truyền cổ

 

Hệ thống cửa của các mẫu nhà kẻ truyền cũng khá linh hoạt. Cửa bức bàn là một lựa chọn không hề tồi.  Đây là loại cửa cổ được sử dụng phổ biến trong nhiều ngôi nhà truyền thống, đặc biệt là nhà kẻ truyền. Cửa được đặt ở giữa 2 cột của gian nhà chính. Trên mỗi bộ cửa sẽ có nhiều cánh (thường là số cửa chẵn như 2, 4, 6), nhưng trong những ngôi nhà kẻ truyền 5 gian loại cửa 4 cánh được sử dụng phổ biến hơn cả. Bởi nó mang đến cho công trình nhà ở nét đẹp mộc mạc giản dị và đáp ứng được công năng sử dụng của đa số các gia đình Việt.

Trên đây là những thông tin liên quan đến nhà kẻ truyền, hy vọng nội dung chúng tôi chia sẻ này sẽ cung cấp cho bạn thêm nhiều những thông tin hữu ích. Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết của chúng tôi.

Ấn Quang Đại Sư là ai?

Ấn quang đại sư là ai?

Trong sử sách Phật Pháp có ghi chép một vị đại sư là vị tổ thứ 13 của Tịnh độ tông. Vị đại sư này được biết đến là giữ giới nghiêm chỉnh, luôn luôn giữ tâm ngay thẳng. Từ thức ăn đến cả trang phục đẹp mang đến để dâng tặng, nếu không thể từ chối nhận thì người cũng sẽ tặng cho những vị xuất gia khác. Ngoài ra người cũng được biết đến với kho tàng lời dạy về kinh Phật và những lời khuyên trong đời sống tu hành. Mời các bạn hãy cùng thietkenhathoho.com tìm hiểu về Ấn Quang đại sư.

Sơ lược về Ấn Quang đại sư

Sơ lược về Ấn Quang đại sư

 

Hình ảnh chụp Ấn Quang đại sư

Ấn Quang đại sư có tên thật là Thánh Lượng, và có tên hiệu là Thường Tàm. Người sống ở thời đại khoảng cuối đời nhà Thanh, trước khi chuyển sang Trung Hoa Dân Quốc. Ngài là người con nhà họ Triệu ở Hiệp Tây. Từ ngày còn nhỏ, gia đình Ngài đã cho học nho giáo. Sau này trưởng thành người vẫn lấy đạo Khổng làm gương noi theo để hoàn thành trách nhiệm.

Ngài học theo thuyết của Hàn Dũ, Âu Dương Tu và các bài kinh của Phật giáo. Ở tuổi 21 người đã thông hiểu hết tất cả các kinh Phật, sau đó được xuất gia ở một ngôi chùa trên núi Chung Nam. Không lâu sau đó lại có duyên với thọ đại giới tại chùa Song Khê. Rồi Ngài trở bệnh, mấy năm sau đó tự thấy lỗi của mình đành hối lỗi, hồi tâm lại như trước kia.

Chỉ vừa sinh ra được sáu tháng, Ngài đã bị đau mắt, tuy không làm cho mù mắt nhưng mắt người khá yếu. Mắt thì lúc nào cũng hơi hơi đỏ, những cảnh vật xung quanh thì mờ mờ. Lúc đi thọ giới, vì tính cẩn thận và chữ viết đẹp nên đã được lên làm Thư ký. Nhưng vì quá nhiều công việc, ngày nào cũng phải viết, nên sau đó đôi mắt Ngài càng ngày càng đỏ hơn như huyết.

Trong một lần khi đi phơi kinh, ông đã đọc được Long Thơ Tịnh Độ, nhờ đó mà biết được việc niệm kinh Phật tạo ra công đức quan trọng đến chừng nào. Lúc thọ giới, ban đêm mọi người đi vào giấc ngủ, còn Người vẫn ngồi niệm kinh Phật, ban ngày thì viết chữ, không có lúc nào tâm không nghĩ về Phật. Nhờ cái tâm cung kính Phật, mà dù mắt có đỏ hoe, vẫn cố gắng chép.

Cho đến khi người được mãn thì bệnh mắt mới lành lại. Chính vì phép lành đó mà Ngài biết không nên ngừng nghỉ niệm Phật, phải một lòng thường xuyên niệm, và Ngài đã đưa ra lời khuyên cho mọi người khi niệm. Nhờ nhân duyên đó mà người đi tu học khắp nơi, nơi cuối cùng chính là chùa Pháp Võ. 

Cũng chính nhờ sự tìm hiểu, một lòng để tăng công đức, là một người ham học, chính vì vậy Ngài dễ dàng được thông qua các khóa học và đạt đến đỉnh cao của sự thấu hiểu Phật. Với kiến thức cao siêu, làm bất cứ việc gì cũng cẩn thận chi tiết nên đã được hòa thượng Hóa Văn mời đến làm bạn để thỉnh kinh cho Pháp Võ Tự.

Sau đó vì để tỏ lòng biết ơn thì vị hòa thượng đã thỉnh Ngài về lầu Tàng Kinh để tu niệm an tĩnh. Trong suốt 33 năm trôi qua đến khi nhà Thanh tàn lụi người vẫn luôn tu niệm mỗi ngày, yên tĩnh và ít giao tiếp bên ngoài.

Ngài sống ẩn mình, nhưng toàn thiên hạ thời ấy ai ai cũng biết đến. Có một vị cư sĩ trong một lần hành hương đến Pháp Võ đã dùng vài bài văn pháp của Đại sư mà đăng lên báo Phật học ở Thượng Hải, để với tên Thường Tàm. Chính nhờ vậy mà các độc giả càng ngày càng đông, ai cũng thắc mắc người ở đâu để đến cung kính.

Năm người 52 tuổi thì đã bị lộ ra nơi ở hiện tại, người người lũ lượt đến nơi đến xin Ngài khai sáng. Còn vị cư sĩ kia thì dùng những bài văn người tái bản và truyền bá khắp nơi cả trong và ngoài nước.

Vì lối sống ẩn tu của người nên lúc đầu nếu ai tới xin xuất gia người sẽ không chấp nhận, và sẽ hướng dẫn đến với vị pháp sư ở nơi khác. Cho đến một lần có vị cư sĩ khác đã đem lễ xin người làm đệ tử xuất gia, để được tu như Đại sư.

Sau khi suy nghĩ kĩ, khó lòng từ chối, không muốn cản con đường tu nên đành chấp nhận. Năm đó là năm Ngài được 59 tuổi, mới có một để tử xuất gia đầu tiên. Từ đó mà rất nhiều người đã viết thư xin làm đệ tử, một lòng mong người chấp nhận để được sống tu luyện hướng Phật. Dần dần số đệ tử từ một người mà lên đến trăm và đến ngàn người. Cũng có rất nhiều vị thành tâm tu niệm mà được sinh ra ở cõi Cực Lạc. 

Người được biết đến là một vị đại sư với tấm lòng ẩn dật, không thích phô trương. Ai cho đồ ăn, thức uống, y phục người sẽ không nhận. Nếu không thể từ chối được người cũng tặng cho người khác. Những đồ ăn thức uống sẽ đưa cho chùa quan lý, để cúng dường cho Phật. Dân có đưa bao nhiêu tiền cũng lấy đó để đi in sách kinh, cứu nạn cho dân chúng khó khăn, đi làm từ thiện bác ái.

Còn bản thân chỉ ăn cơm và quần áo đơn giản đến hết đời. Đại sư thường tài trợ các các nơi phóng sanh. Người cũng lập ra Hoằng Hóa Xã để in ấn, phát hành các kinh sách và các tượng Phật, tượng Bồ tát. Ngoài ra, Ngài cũng giúp cho các vị Tăng lập ra các cách giải cứu các chùa bị cho di dời. Năm 70 tuổi, thì được thỉnh đến một nơi có nhiều loài rệp. Người đã không rời đi mà ở đó cầu nguyện, từ đó mà không còn thấy loài rệp này nữa. Đại sư cũng dùng màu nhiệm của mình để cứu chữa những người mắc bệnh nan y.

Sau 3 năm ngày 24 tháng 10, Ấn quang đại sư vãng sanh. Sau đó 100 ngày sau người nhập Niết bàn. Lúc đó bầu trời trong xanh bỗng hiện ra ánh sáng 5 sắc. Tỏa ra màu nhiệm xá lợi của vị Đại sư. Sau đó những vị có lòng thành tâm bới tro kiếm được xá lợi. Phật giáo đương thời thấy được sự chân thật trong lối sống tu hành của đại sư và màu nhiệm kỳ lạ đó nhận định Ngài chính là bậc thánh. Sau đó kỉ niệm 1 năm viên tịch đã tôn người làm vị tổ thứ 13 của Tịnh độ tông.

Vì sao Người được gọi là hậu thế của đức Đại Thế Chí Bồ Tát?

Vì sao Người được gọi là hậu thế của đức Đại Thế Chí Bồ Tát?

Hình ảnh Bồ tát Đại Chí Thế

Chắc sẽ có nhiều người thắc mắc rằng tại sao lại gọi Ấn quang đại sư là hậu thế của Đại Thế Chí Bồ Tát. Để tìm hiểu biết được lý do tại sao phải bắt đầu từ câu chuyện mà Tuyên Hóa Thượng Nhân đã kể về Người. Ấn Quang đại sư là người thành tâm siêng năng ngồi niệm Phật mỗi ngày. Lúc người qua đời, hỏa thiêu thì có rất nhiều người đến tham dự, không thể đếm hết được.

Người tham dự hôm đó kéo dài từ đỉnh đến chân núi, cũng tầm khoảng 3 dặm. Sau khi thiêu thân thì bỗng có mầu nhiệm lạ trên trời phát ra 5 màu ánh sáng. Vài người đã bới tro lên lượm được xá lợi. Điều đó thể hiện được con đường tu hành người đã chánh quả, là người làm chứng cho những điều Phật dạy là đúng.

Ngài cho ta thấy được nhờ việc siêng năng đọc kinh, cầu nguyện, tu tâm dành được rất nhiều công đức và cả màu nhiệm được lên cõi Trời. Tất cả những người có mặt lúc đó đều trông thấy và tin vào mầu nhiệm 5 sắc.

Người cũng tỏ cho ta biết rằng nếu đã không có duyên với Phật thì kể cả Đại Bồ tát cũng không thể cứu chữa được. Người được biết đến với kiến thức và đạo đức vô cùng tốt, là một bậc cao tăng. Nhưng chỉ vì giọng nói người hơi nặng dẫn đến có người không thể tiếp thu lời giảng của Ngài. Cũng chính vì vậy người cũng ít khi thuyết giảng, mà đổi sang viết ra những cuốn sách về Phật. Sau này tái bản và mang đi khắp nơi, đời sau cũng được hưởng ơn phước này.

Cũng có một lần nọ, Ngài đi đến thành phố Thượng Hải xa hoa để đi giảng dạy, trên các báo đăng lên tin tức của Ấn Quang, khuyên mọi người đến nghe kinh để tăng công đức. Nhờ thế mà rất đông người đến xem, lễ nghi uy nghiêm, tráng lệ.

Lúc đó bỗng có một cư sĩ nói lại rằng: “Tôi đã mơ thấy người mặc áo giáp màu vàng, Ngài ấy đã nói tôi hãy đến Thượng Hải để nghe Bồ tát Đại Chí Thế giảng kinh”. Sáng hôm sau khi thấy tin tức cô đã đến đó, và đã nói chuyện trực tiếp với Ấn Quang đại sư.

Cô gái đó cũng đã thắc mắc Ngài có đúng là vị Bồ tát Đại Thế Chí hay không và đã kể lại giấc mơ đó. Lúc đó Ngài Ấn Quang đáp lại: “Sự việc này, con biết, ta biết, và đừng nói cho ai hay biết”. Vị cư sĩ đã giữ bí mật này đến khi Ngài viên tịch mới nói cho mọi người hay biết. Chính vì vậy mọi người mới suy tôn Ấn Quang đại sư là hậu thế của Bồ tát Đại Thế Chí. 

Lời dạy của ấn quang đại sư

Lời dạy của ấn quang đại sư

 

Những lời căn dặn của Ấn Quang đại sư

Sau đây là những lời Ngài Ấn Quang đã ghi chép lại hoặc giảng dạy cho muôn dân hiểu. Đây là những bài học, những lời khuyên sâu sắc mà Ngài muốn chúng sanh hiểu. Nhờ đó mà tu hành đúng cách, tăng công đức, hướng thiện lành cho bản thân.

Lời dặn về quy tắc tu học

Lời dặn về quy tắc tu học

 

Không được bỏ tu đó chính là tai họa

Về quy tắc tu học, phải lưu ý bản thân dù là tu tại gia hay xuất gia, phải chú ý kính trên nhường dưới, luôn nhẫn nại và kiên trì để đạt được điều mong ước. Phải cố gắng mỗi ngày, những việc người khác cảm thấy gian nan không thực hiện được, thì chính bản thân không ngại khó mà vượt qua. Chính lúc đó mọi điều mong ước sẽ được như ý. Khi tĩnh tâm phải nghĩ đến những lỗi lầm của mình để sám hối.

Không nên học thói sân si, nói xấu người khác, nói những điều xấu xa. Từ việc đi đứng đến ngồi nằm, sáng đến tối, cả ngày phải luôn để tâm đến Phật, có thể niệm Phật thầm vẫn được chấp nhận. Bản thân phải luôn tự nhắc nhở nên niệm Phật dù ở bất cứ nơi đâu.

Nếu có ý nghĩ ngừng việc niệm, phải tức khắc bỏ ngay suy nghĩ. Phải luôn luôn sám hối về những tội lỗi đã gây ra không chỉ ở hiện tại mà cả quá khứ. Nếu đã tu học không nên có suy nghĩ nông cạn, khoe khoang, kiêu căng, sân si.

Ta nên chăm sóc cho bản thân và gia đình không nên dính líu đến đời sống người khác. Lúc nào cũng nên học theo những gương tốt, không nên sa đọa những gương ác, làm hại bản thân. Nếu tu hành đúng theo những gì đã dạy như trên, nhất định sẽ được sanh lên cõi Trời.

Những điều dạy cho người niệm kinh Phật

Những điều dạy cho người niệm kinh Phật

 

Tìm nơi yên tĩnh để niệm Phật

Sau đây là 5 điều mà Ấn Quang đại sư muốn dạy cho người niệm kinh Phật.

  • Thứ nhất: Ta nên tìm nơi thanh tịnh, yên tĩnh để có thể tu hành. Tránh để bản thân bị bên ngoài ảnh hưởng đến.
  • Thứ hai: Ta phải nghĩ rằng chuyện tồn tại nơi trần gian không phải là mãi mãi, sẽ có ngày bản thân sẽ qua đời, có thể chỉ còn trong giây lát. 
  • Thứ ba: Ta phải sống ngay thẳng, luôn thiết tha, cung kính Phật mỗi ngày. Những ai hay nghe, hay tụng mỗi ngày tâm sẽ trong sạch và thanh tịnh. 
  • Thứ tư: Dù cho đã tu luyện tâm thành công nhưng không được kiêu căng, khoe khoang, sân si với ai khác.
  • Thứ năm: Đi bất cứ đâu, gặp ai cũng khuyên họ hãy niệm Phật, để sớm được lên cõi Trời.

Trong thế giới trần gian này không phải ai cũng siêu phàm mà thoát cửa tử, và được lên bậc thánh mà không làm gì cả. Nên khi niệm ta hãy nghĩ như mình đã chết, gạt bỏ đi đau khổ mình đang gặp phải. Chính lúc ta đã chết, mọi sự việc đang diễn ra ở hiện tại đều là hư vô. Nhờ cách ta niệm kinh như vậy sẽ giúp yên tĩnh hơn, tâm dễ thấm nhuần những lời dạy của Phật.

Những lời khuyên của ấn quang đại sư khi trì tụng 

Những lời khuyên của ấn quang đại sư khi trì tụng 

 

Hãy kiên trì, nhẫn nại ắt sẽ vượt qua

Lời khuyên của Ấn Quang đại sư dành cho các Phật tử khi trì tụng đó là dù ở bất cứ tư thế đi, đứng, ngồi, nằm, ăn uống đều phải nhớ niệm Phật. Dù bản thân có đang gặp khó khăn cũng không quên niệm kinh Phật. Những ai có thể đạt đến ngưỡng như vậy chắc chắn sẽ được đến bên Phật. Bản thân phải tập luyện lòng vị tha, rộng lượng với mọi người xung quanh. Phải nhẫn, chịu đựng những điều mà người khác không chịu đựng được, chịu được những nhọc nhằn không ai dám gánh vác. Không để tâm mình bị đánh mất, hay không để sinh tật đố kị với người khác.

Những người thường xuyên niệm Phật chính là những người hiếu thảo, yêu thương gia đình, luôn quan tâm đến cha mẹ và ông bà, là người có đạo đức tốt, ăn chay trường, tu thập thiện nghiệp,… Tổng hợp lại là người có phẩm chất tốt, hết lòng cho gia đình và xã hội, không ganh ghét, để bụng bất kỳ ai.

Bởi Phật sẽ không bao giờ có lòng nghĩ xấu về bất kì ai, thì người muốn đến cõi Trời sẽ được như Ngài. Ấn Quang đại sư cũng nói rằng ai thường niệm kinh Phật sẽ có ánh sáng của Phật dẫn họ đi đường thiện lành. Còn ai không thể dứt bỏ đi được, không đi theo con đường Phật dẫn sẽ chẳng thể nào đến nơi mong ước.

Những người có thời gian rảnh, nên dành xuyên ngày, xuyên đêm để niệm. Nhưng phải chú ý khi niệm thầm hay niệm ra tiếng phải để cơ thể sạch sẽ, quần áo nghiêm chỉnh và ở nơi thanh tịnh. Lúc ở những nơi dơ bẩn (thỏa thân, tắm rửa, đại tiện,…) không nên phát ra tiếng khi niệm.

Bởi hành động đó được cho là không được cung kính. Nhất là khi đi ngủ không nên phát tiếng vừa không thể hiện sự tôn trọng mà còn tổn hại thân khí. Niệm Phật cần quan trọng là tâm và bên ngoài nghiêm chỉnh có thể thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh, nếu có lòng ắt hẳn sẽ được công đức.

Phương pháp niệm kinh Phật đúng đắn

Phương pháp niệm kinh Phật đúng đắn

 

Đủ đầy 6 căn

Để có thể niệm kinh Phật cho đúng đó là nhiếp trọn sáu căn. Ý nói lúc ta niệm tai phải lắng nghe cho kĩ, lúc nào tâm cũng phải nhớ đến Phật, khi niệm miệng phải đọc rõ ràng, mắt không được nhìn ngó lun tung. Mắt lúc niệm có thể hơn khép lại, không trừng mắt quá to.

Mũi cũng không được ngửi loạn lên, phải tập trung. Thân thì cung kính. Đó chính là 6 căn, khi niệm ta phải để 6 căn này thanh tịnh không được mất tập trung. Nếu không trọn vẹn được thì khó sinh công đức. Nếu bản thân cố gắng thường xuyên đạt được trọn 6 căn sẽ được gọi là “tịnh tiếp nối”. Người giữ được trạng thái như vậy đã đạt được thành công của niệm Phật.

Các Phật tử phải chú ý đến từng hành động của mình. Nếu tâm có điều đang vướng bận phải loại bỏ nó đi để khi niệm không ảnh hưởng. Khi niệm không để cho bản thân bị căng thẳng về mặt tinh thần. Nếu bị những bệnh như đau đầu, ngứa,… nên tìm cách cho hết hẳn rồi hẳn niệm.

Không nên lười biếng lần chuỗi, vì lâu ngày sẽ thành thói quen xấu. Niệm Phật cũng được coi là cách dọn cho tâm mình sạch sẽ hơn, loại trừ đi thói quen xấu. Phật sẽ là người soi sáng, dạy ta biết đâu là vết nhơ trong lòng để ta dọn sạch sẽ.

Người niệm không được ỷ lại sự thông minh của mình mà không chịu hiểu những lời Phật dạy. Những điều ta hiểu được ở thế gian này chưa chắc là đáp án đúng. Phật là đáp án hoàn hảo nhất để ta làm theo. Bởi chính Ngài đã mở ra Phật giáo, đã mở ra cõi Tây phương cho ta noi theo. Vậy có gì là sai khi ta không hết lòng tin Phật. 

Khi niệm Phật ta chỉ cần nhớ chữ “A Di Đà Phật” để tránh nhiều chữ không thể nhớ hết. Ngoài ra niệm thầm không sai cũng sẽ tạo ra công đức như ta niệm ra tiếng. Ta nên biết nên niệm như thế nào trong từng hoàn cảnh khác nhau. Quan trọng hơn cả là tâm ta được lời niệm đánh động, nhắc nhở ta thanh tịnh để sám hối trọng tâm. Niệm kinh phải rõ ràng, cung kính, không phải ào ào đọc sẽ được công đức. Nếu tâm tịnh, bên ngoài nghiêm chỉnh, thì công đức lớn vô vàn.

Bài học về lòng thành kính

Bài học về lòng thành kính

 

Phải tỏ lòng thành và cung kính Phật.

Lòng thành và sự cung kính là hai điều buộc phải có trên con đường tu học. Nếu ta không có hai việc này sẽ như cây không được tưới nước, sẽ héo mà không được ơn phước gì cả. Niệm Phật chính là cách dễ dàng nhất mà lại được nhiều công đức. Nếu ta lười biếng không chú tâm không chỉ không được công đức, mà còn sinh ra thêm tội lớn là tội khinh thường Phật. Tội lớn này không nhận ra sớm để hối cải, thì sẽ bị đọa đường ác.

Ấn Quang Đại sư đã nói rằng: “Nếu muốn hưởng được những hương hoa từ Phật Pháp phải cầu nguyện ở nơi cung kính. Ở nơi càng cung kính sẽ trừ đi 1 phần nghiệp ác và tăng thêm 1 phần công đức. Có thêm được 10 phần cung kính sẽ trừ 10 phần nghiệp ác và tăng thêm 10 phần ơn phước. Nếu không chú ý mà cung kính sẽ vừa mắc tội nghiệp xấu, ơn phước cũng giảm đi”.

Ở những buổi lễ, tụng, niệm đều phải tỏ lòng thành kính. Bởi nếu không thành kính thì chỉ như một buổi hát tuồng bình thường. Chẳng thể hiện điều gì đến Phật, cũng chẳng tỏ ý mong ước, tất cả đều là vô nghĩa. Nhưng xuất phát từ thâm tâm ta, mà bày tỏ ơn thiêng của Phật, tỏ lòng từ bi, tôn kính Ngài.

Ắt hẳn những người như vậy sẽ được Phật soi sáng. Khi nói đến thành phải đi cùng với sự cung kính, đây chính là điều mà Ấn Quang đại sư muốn ta thấu hiểu. Từ đó là nền tảng vững chắc để thấu hiểu lời Phật.

Lời khuyên cho những người bệnh

Lời khuyên cho những người bệnh

 

Niệm kinh là liều thuốc chữa lành.

Những người niệm Phật khi bị bệnh nếu tuổi đời chưa hết sẽ được lành bên sớm. Những người bị bệnh nên dùng toàn tâm để niệm Phật, vừa để tiêu đi nghiệp xấu, vừa giúp lành bệnh. Tuổi thọ vừa hết sẽ được Phật dẫn đưa đến cõi Tây phương cực lạc.

Bởi công đức từ kiếp trước đã diệt trừ tận diệt hết nghiệp ác. Còn ai cứ buồn bã mà buông xuôi, không niệm Phật mà mong cầu khỏe lại. Thì không chỉ không hết bệnh mà khi qua đời vẫn không được theo mong ước. 

Thường khi bị bệnh ta có thể dùng thuốc để chữa trị, nhưng đó không phải điều bắt buộc. Bệnh nặng có dùng thuốc tiên cũng khó lòng mà chữa được, nói chi đến thuốc của người phàm.

Nhưng có loại thuốc luôn được sử dụng đó chính là siêng năng niệm kinh. Không chỉ không làm hao tổn tâm trí mà còn giúp tâm tịnh hơn để niệm. Chỉ cần niệm kinh thì bệnh nào cũng được chữa lành.

Niệm Phật cũng như việc ta uống thuốc. Nếu ta biết nguồn gốc rõ ràng, hiểu rõ bệnh tình thì sẽ chữa trị được đúng bệnh. Toa thuốc này trị được bách bệnh, những quan trọng ta phải hiểu được thì mới mau lành. Bởi vậy, không phải ai cũng có thể hết bệnh được, chỉ có người thấu hiểu mới đạt được. Nếu siêng năng niệm Phật ắt hẳn bệnh tự sinh sẽ tự diệt đi.