mục cập nhật những thông tin liên quan đến các công trình tâm linh như nhà thờ họ, đình chùa, khu tưởng niệm hay khu trưng bày kỉ vật …

đế thích thiên là ai?

Đế thích thiên là ai ?

Đế thích thiên là vị đại chư thiên có nhiều oai phong và uy lực được những vị chư thiên khác và người phàm tôn kính, được xem là thiên vương của cõi trời Đao Lợi. Người là vị Thiên chủ nắm giữ quyền hành ở cõi trời Đao Lợi, chứ không phải là một vị Vua bình thường khác. Vậy để tìm hiểu rõ tại sao Người lại được gọi như vậy? Lý do tại sao Người được tôn kính, thì bài viết dưới đây của thietkenhathoho.com sẽ là bài viết để bạn tìm hiểu về Đế thích thiên.

Tiểu sử sơ lược về đế thích thiên

Tiểu sử sơ lược về đế thích thiên

Cõi trời Đao Lợi

Đế thích thiên chính là Thiên chủ của cõi trời Đao Lợi hay nơi đây cũng được gọi là Cõi trời Tam Thập Tam Thiên (Cõi trời ba mươi ba). Theo Phật Pháp đã ghi chép về câu chuyện rằng Người có tính giúp đỡ, làm việc tốt lành, làm việc bác ái. Ông cùng với 32 người bạn đã cùng nhau tu hành tăng công đức. Nhờ vậy khi còn sống mà 33 người đã có đầy đủ ơn phước, cho nên sau khi qua đời đã được lên cõi Trời Đao Lợi. Ông thì được làm Thiên Chủ, còn 32 người bạn của ông thành Phụ Thần. Do vậy nên mới có tên gọi cõi trời ba mươi ba hay còn gọi là cõi Tam thập Tam Thiên.

Theo đạo Bà la môn rất sùng bái Đế thích, coi ông như là vị thần của tầm sét. Còn Đạo Phật, Đế thích thiên chính là vua ở trên cõi Trời, sống ở cõi trời Đao Lợi, ở cõi Trời có tận 33 cảnh, thuộc Dục giới. Điều này cũng có nghĩa là những người ở đây đều chưa thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử trong 3 cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Cũng có sử sách chép rằng Indra là tên gọi khác của Đế thích hoàn nhân. Đến nay Phật giáo vẫn xem Đế thích là một chúng sanh, đương nhiên đây là một vị chúng sanh cao hơn loài người, sức mạnh và uy quyền lớn hơn rất nhiều.

Theo thứ tự từ dưới lên thì đây là tầng thứ hai của Dục Giới: Tứ Vương, Đao Lợi, Dạ Ma, Đâu Suất, Hóa Lạc và Tha Hóa tự tại. Ngài cũng như là một vị chư thiên trời Đao Lợi: Người cao một dặm, áo thì nặng sáu thù, tuổi thọ thì đến 1000 tuổi. Chỉ một ngày dài ở nơi đây sẽ bằng tận 100 năm nơi cõi trần gian.

Người chính là Thiên chủ thống trị toàn bộ ở cõi Đao Lợi và Tứ Vương. Người có uy lực và nắm giữ quyền sinh tử ở chốn trần gian. Người có những trách nhiệm riêng và quyền năng người để canh giữ nơi cõi Trời này. Người không phải là Vua cờ Đế Thích mà ta nghe được trong chuyện cổ tích.

Tại sao người ta thường nói “Vua trời đế thích thiên”

Tại sao người ta thường nói “Vua trời đế thích thiên”

 

Vua trời đế thích luôn hầu cận Phật tổ

Vua trời đế thích thiên là vị được Nho gia suy tôn làm Ngọc Hoàng Thượng Đế. Còn Đạo gia suy tôn là Ngọc đế hay là Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn. Trong Phật Pháp thì thường gọi là Thiên chủ Tam thập Tam thiên, hay Đế thích, hay Đế thích hoàn nhân.

Thật ra Người cũng chính là một vị Vua, người có uy quyền, thống trị hết bốn vị Đại thiên vương. Ở nơi dương gian thì uy quyền của Ngọc Hoàng Thượng Đế vô cùng cao quý. Nhưng khi ta xem xét ở tam giới thì vẫn còn rất thấp. Vì ở nơi đây vẫn còn vô số vị Chư Thiên khác, cũng có quyền năng và oai lực lớn hơn gấp vạn lần.

Được gọi là “vua trời” bởi Đế thích đang thống trị cõi Đao Lợi và Tứ Vương. Người có uy quyền, cai trị chúng sanh trên cõi này. Người có quyền phán xét và giúp đỡ chúng sanh làm điều lành, sớm được chứng quả, lên cõi Trời cũng Đức Phật. Người không giống những vị Vua nơi dương gian, mà người có bổn phận đặc biệt hơn thế. Người là “Vua trời đế thích thiên” bởi người là Vua của cõi Đao Lợi.

Đế thích thiên có nhiệm vụ gì ?

Đế thích là người thống trị cả cõi trời Đao Lợi thì bên cạnh đó ông cũng phải có nhiệm vụ cao cả của mình. Ngài là người yêu thương và lo lắng cho chúng sanh, là người xem xét thiện ác nơi dương gian, thay mặt Đức Phật mà chăm lo cho chúng sanh. Ngoài ra ở tiền kiếp trước Đế thích cũng là người đã làm những việc lành, phẩm chất tốt. Từ đó mà gia đình và bạn bè đều noi gương theo chân người đến cõi Đao Lợi. Bởi vậy chúng sanh cũng hãy đi theo con đường bác ái, bố thí, ngay thẳng để sớm được đến bên Ngài.

Phán xét điều thiện ác nơi dương gian

Phán xét điều thiện ác nơi dương gian

 

Tượng của 4 vị thiên vương

Các vị Đế thích và Thiên vương sẽ cùng nhau lên Thiện pháp đường. Ở nơi đây có những chư tiên hầu cận xung quanh. Khi vào Thiện pháp đường, Người sẽ được ngồi trên tòa sư tử, ở mỗi bên tả hữu sẽ có 16 vị thiên vương. Các vị chư tiên đều phải được phân theo thứ cấp để ngồi đúng vị trí. Có 2 vị thái tử, một vị tên Chiên đàn, một vị tên Tutyla, đây cũng chính là hai vị Đại tướng của cõi trời Đao Lợi. Mỗi vị thái tử được chia đều hai bên tả hữu. Bên cạnh đó sẽ có bốn vị thiên vương chia nhau ngồi ở 4 cửa ra vào.

Đế thích hoàn nhân chính là người thống trị Thiên Quỷ ở tất cả các ngọn núi, thuộc nhóm núi Sumeru, bên cạnh Đế thích có 10 vị Đại Thiên Tử. Tầm nửa tháng, vào ngày lục trai thì Đế Thích ra lệnh cho bốn vị Thiên vương xem xét tình hình của chúng sanh dưới trần gian. Chính lúc đó bốn vị thiên vương sẽ mang những việc lành, việc ác ở trần gian mà bẩm báo lên Đế thích. Nếu có những tin ở thế gian có nhiều người tu tâm, giữ giới, yêu thương và chăm sóc cho ba mẹ, nghe lời bậc bề trên, siêng làm điều bác ái, tu hành tăng công đức, bố thí, làm điều ngay thẳng, chay tịnh,…

Điều này sẽ khiến Đế thích hạnh phúc và vui vẻ, vì biết rằng sẽ có nhiều chúng sinh được lên cõi trời, ít người sẽ bị đọa vào 3 đường ác. Nếu trái lại với những lời bẩm báo trên, Đế thích sẽ liền đau buồn, không vui. Bởi vì người biết rằng những người càng lười biếng, không tăng công đức sẽ bị giảm thọ, hậu quả khôn lường cho bản thân họ. Chính những người đó không thể thấy tương lai của mình nhưng Đế thích sẽ đã trông thấy rõ điều đó. Sớm muộn sẽ bị đọa vào đường ác.

Làm gương sáng cho chúng sanh ở trần gian noi theo

Làm gương sáng cho chúng sanh ở trần gian noi theo

 

Làm gương cho chúng sanh đời đời noi theo

Trong kiếp làm người phàm ở dương gian, Đế thích thiên đã có nhiều phẩm chất cao quý và thường làm những hành động bác ái, làm điều ngay thẳng và đã tạo dựng nếu công đức cứu bản thân khỏi vòng luân hồi. Chính nhờ nỗ lực của Ngài mà đã trở thành Thiên chỉ của cõi trời Đao Lợi. Ở kiếp đó Ngài cũng những người bạn của mình đã đi con đường tạo dựng ơn phước cho bản thân. Bằng hành động giúp những người cơ nhỡ, khó khăn, vô gia cư, bệnh tật, và vô số điều bác ái khác. Bệnh cạnh đó Ngài cũng là một người nhẫn nại, thông qua việc dù có người khác chiếm đoạt và đuổi đi nơi khác nhưng Ngài vẫn vui vẻ nhường chỗ cho họ.

Còn những người vợ của Đế Thích ở tiền kiếp cũng cố gắng tìm cách để tăng công đức, làm việc tạo ơn phước ngoại trừ cô vợ út. Cô vợ này chỉ có chăm chút cho vẻ ngoài, nhan sắc của mình mà không làm những hành động mang lại công đức. Chính vì vậy mà làm công đức không tăng mà còn bị mất đi, tự hại bản thân. Tất cả những người bạn và những người vợ khác của ông đều được tái sinh lên cõi Đao Lợi cùng Ngài. Còn cô vợ út tái sinh làm một con cò ở trong hang núi.

Cũng vì thương cho vợ của mình mà Đế thích cũng đã giúp cho vợ út tái sanh lên cõi trời đoàn tụ cùng mọi người bằng cách nhắc nhở giữ gìn ngũ giới. Chính gia đình và bạn bè đã noi theo gương Ngài để sống thiện lành, phẩm chất cao quý, ngay thẳng. Hậu quả khôn lường nếu không sống chăm tích công đức sẽ là sống đời khổ cực, nghiệp ác kiếp sau. Sống ở đời phải siêng năng làm chuyện lành để giảm bớt nghiệp ác, gia tăng điều lành bằng việc học hỏi Thập thiện lành. Sống càng lười biếng, làm điều gian ác, nói dối, cư xử tệ bạc sớm muộn khi đầu thai cũng bị đọa vào 3 đường ác.

Đế thích thiên và Phật tổ Như Lai ai có vị thế cao hơn

Đế thích thiên và Phật tổ Như Lai ai có vị thế cao hơn

 

Phật tổ Như Lai

Người phàm nơi dương gian luôn cho rằng chư thiên là cao quý nhất, không ai sánh bằng. Còn đối với Đức Phật, chư tiên cũng là chúng sanh, chưa thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Cũng chính vì điều đó mà khi Phật tổ Như Lai giảng dạy thì vô vàn thiên vương và vị Đế Thích cũng đến để tôn kính, thực hiện nghi lễ, lắng nghe những mầu nhiệm.

Theo sử sách Phật pháp ghi chép, Phật tổ Như Lai cũng từng là người phàm như chúng ta và đã thành lập ra Phật giáo. Ngài có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo phiên dịch qua từng nước. Như Lai là cái tên dùng để chỉ vị Thánh nhân đạt được bậc giải thoát cao nhất, đỉnh cao nhất không ai sánh bằng. Ta cần nên biết rằng Phật tổ Như Lai và Phật Thích Ca Mâu Ni là một người, chỉ là tên gọi khác.

Hình tượng Phật tổ được khắc thành những bức tượng và được vẽ thành nhiều bức tranh khác nhau. Những bức tượng làm bằng đồng được trưng bày để thờ cúng ở nhiều nơi. Không chỉ có gần đây mà đã có từ hàng triệu năm về trước. Người vốn sinh ra là một thái tử ở một vương quốc nhưng từ bỏ để tu hành, sáng lập ra Phật giáo. Chính người đã truyền bá cho con người nơi dương gian, từ đó giúp họ thoát khỏi vòng đau khổ sinh tử. Những lời Phật tổ giảng dạy đã giúp chúng sanh sáng mắt, hướng đến điều thiện lành. Cho đến nay, những bài giảng của Phật tổ Như Lai vẫn còn nguyên vẹn và giúp đỡ cho chúng sanh đi đến con đường Niết Bàn.

Bởi ta có thể thấy rằng vị thế của Phật tổ Như Lai cao hơn Đế thích, không bởi vì chức vụ cao thấp mà là hành động vĩ đại. Phật tổ chính là Người đã mở ra con đường lớn cho chúng sanh nhận thức đau khổ ở dương gian. Cũng có thể cho rằng nhờ sự truyền bá của Phật tổ đã khiến Đế thích thiên thức tỉnh mà đi theo con đường lên cõi Trời. Cho đến nay Đức Phật vẫn cho rằng Đế Thích vẫn được coi là chúng sanh nhưng vì công đức bản thân nên được ban cho ân huệ là Vua cõi Đao Lợi hay còn gọi là Vua trời Đế thích thiên.

kinh pháp cú

Kinh pháp cú là gì? Kinh Pháp cú có tác dụng gì?

Bài viết này của thietkenhathoho.com sẽ giới thiệu đến mọi người Kinh Pháp cú – bộ kinh này được xem là những lời dạy, câu kệ hay nhất mà Đức Phật để lại cho chúng sinh nhiều đời sau. Đây chỉ là những câu nói lời dạy ngắn gọn nhưng lại chứa đầy tinh hoa của những cuộc đời. 

Kinh pháp cú là gì?

Kinh pháp cú là gì?

Kinh Pháp Cú là những lời vàng mà Đức Phật dạy bảo chúng sinh sống theo chân lý

Tùy theo bản dịch của các nhà thiền sư hay nhà sử học khác nhau, Kinh Pháp Cú hoặc Kinh Lời Vàng hoặc Lời Phật Dạy là một trong số 15 quyển kinh bộ kinh trong Kinh Tạng Pali. Có thể nói quyển kinh này là quyển kinh Phật được lưu truyền phổ biến và nổi tiếng nhất trên thế giới, được các thiền sư từ các đất nước khác nhau dịch về tiếng mẹ đẻ của họ. Theo đó, ta có thể dịch nôm na ý nghĩa của tựa đề bộ kinh này là: Pháp có nghĩa là đạo lý, chân lý, lời của đức Phật, Cú có nghĩa là lời nói hay câu câu kệ. Vì thế Pháp Cú có nghĩa là lời nói của Đức Phật. 

Nguồn gốc của kinh pháp cú

Nguồn gốc của kinh pháp cú

 

Kinh Pháp Cú là những câu nói do chính Đức Phật nói ra trong những năm còn tại thế của ngài

Kinh Pháp Cú là một quyển kinh của nhà Phật đã được lưu truyền từ rất lâu, cách đây khoảng 2500 năm. Có thể xem đây là bộ kinh cổ xưa nhất tập hợp những lời dạy ngắn gọn nhưng chứa đầy tinh hoa của Đức Phật Thích Ca trong ba trăm trường hợp giáo hóa khác nhau. Những câu này chính là những lời nói do chính Đức Phật khi còn tại thế dạy bảo các Phật tử hay chúng sinh trong suốt gần nửa thế kỷ thuyết pháp của Ngài. Trong những năm tháng thuyết pháp ấy, Đức Phật dạy bảo chúng sinh qua lời nói và được truyền miệng đi chứ Ngài không viết sách. 

Cho đến tận ba tháng sau khi Đức Phật nhập vào cõi Niết Bàn thì các vị đại đệ tử của Ngài mới tập hợp lại. Họ bắt đầu cố gắng tổng hợp và ghi chép lại tất cả những giáo pháp mà Đức Phật từng thuyết giáo để có tư liệu cho con cháu mai sau. Chúng sinh sau này đều có thể được nghe hay đọc lại tư tưởng của Ngài. Tất cả các lời nói của Đức Phật được các vị đại đệ tử sắp xếp thành 423 bài “kệ”, chia ra làm 26 “phẩm” hoàn toàn giống với bộ kinh hiện nay đang lưu truyền muôn đời. Có thể thấy, tư tưởng của Ngài vẫn luôn còn nguyên giá trị và thấm đẫm chân lý cuộc đời.

Ý nghĩa của kinh pháp cú

Ý nghĩa của kinh pháp cú

 

Kinh Pháp Cú là một trong những văn tự cổ xưa nhất của Đạo Phật, lưu giữ tinh hoa của phẩm chất nhà Phật

Những lời giảng giải của Đức Phật được tổng hợp lại trong Kinh Pháp Cú luôn cho thấy sự giản dị và dễ hiểu khi giải thích các chân lý của Đạo Phật. Dù là ai chúng ta cũng có thể dễ dàng hiểu được nội dung muốn truyền tài của nó, và giúp ích cho sự tu tập hàng ngày nhờ những câu kệ tuyệt diệu này. Cũng chính Đức Phật đã từng nhấn mạnh rằng Ngài chỉ là người dẫn đường, chỉ ra và định hướng lại những tư tưởng sai lầm cho chúng sinh chứ Ngài không thể “cứu rỗi” hay tu đạo thay cho bất kỳ ai được cả. Vì thế mà con người cần phải tự mình tu hành thì mới có thể giải thoát cho chính mình được.

Mong rằng với những lời dạy tuyệt diệu của Ngài sẽ là một ngọn hải đăng trên biển hay như ngọn đuốc rực rỡ chiếu sáng đêm đen cho mọi chúng sinh trên thế gián. Kinh Pháp Cú sẽ là ngón tay chỉ hướng cho mọi hành vi, suy nghĩ hay tư duy của người đọc để đem lại an lạc và hạnh phúc cho chính mình. Chúng sinh tu hành theo Phật dạy, tự giác ngộ cái sai cái đúng để mà sửa sai thì sự giác ngộ đó sẽ giúp cho họ được giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử đầy khổ đau.

Mỗi một bài kệ trong Kinh Pháp Cú đều là những lời giảng giải thâu tóm những tinh hoa giáo lý mà Đức Phật muốn truyền tải. Mỗi lời nói đều chứa đựng một cách ngắn gọn, súc tích nhưng không hề thiếu sự thấu đáo thế gian của Ngài. Kinh Pháp bao gồm 423 bài kệ được chia rõ ràng thành 26 phẩm. Mỗi một phẩm đều nói trọng tâm về một vấn đề chính trong cuộc sống của con người. Chứa đựng những lý giải sâu sắc nhất về mọi sự vật hiện tượng sẽ diễn ra trong cuộc đời của một người. 

Một số bản dịch của Kinh Pháp Cú

Kinh Pháp Cú khi được lưu truyền đến Việt Nam thì được vô số các tín đồ Phật giáo quan tâm. Trong đó, có rất nhiều các vị thiền sư, cao tăng đã tận tâm dịch lại sang tiếng Việt để mọi chúng sinh đều có thể được thừa hưởng những lời dạy tuyệt diệu này của Đức Phật. Trong đó có một số bản dịch nổi tiếng và sát nghĩa nhất dưới đây.

Bản dịch của Hòa Thượng Thích Thiện Siêu

Bản dịch Kinh Pháp Cú nổi tiếng nhất tại Việt Nam phải kể đến bản dịch của Trưởng lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu. Bản dịch này được nhà xuất bản Phú Lâu Na ấn bản tại Hoa Kỳ Phật lịch 2546 – năm 2002. Hiện nay, quyển kinh này được Nhà xuất bản Hồng Đức cấp giấy phép xuất bản, với hình thức in ấn đẹp, là tài liệu cần thiết cho người học Phật và muốn tìm hiểu căn bản về tinh hoa giáo lý mà Đức Phật đã thuyết giảng hơn hai ngàn năm trăm năm trước.

Kinh Lời Vàng Dhammapada của Hòa Thượng Thích Minh Châu

Nổi tiếng không kém bản dịch của Trưởng lão Thích Thiện Siêu, bản dịch Kinh Lời Vàng Dhammapada của Hòa Thượng Thích Minh Châu cũng là một trong số những văn kệ được giới đánh giá cao. Khi dịch lại quyển kinh này, Hòa Thượng Thích Minh Châu đã có những chia sẻ cảm động: “Chúng tôi cho dịch theo thể kệ năm chữ một, để thật trung thành với nguyên văn, và quý vị sẽ thấy rõ sự cố gắng của chúng tôi, đã dịch hết sức sát với nguyên văn, và nhiều bài kệ có thể xem không thêm, không bớt, một chữ Pali chúng tôi cũng cố gắng tôn trọng đến mức tối đa. Vì đây là thể kệ chứ không phải là thể thơ nên không có thi hóa trong bản dịch của tôi”. 

Bản dịch của các Ni sinh thuộc thiền viện Viên Chiếu

Bên cạnh hai bản dịch vô cùng phổ biến kể trên thì các Ni sinh đến từ thiền viện Viên Chiếu cũng đã dịch lại quyển Kinh Pháp Cú nổi tiếng trong giới Đạo Phật này. Trong đó, các Ni đã lựa chọn dịch theo bản chữ Anh của học giả Eugène Valson Buxlingame. Còn nhà học giả này đã dựa trên nguyên tác Pháp Cú sơ giải bằng tiếng Pali, do nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1999, để dịch lại. Điểm đặc biệt của bản dịch này đó là sau mỗi câu Kinh các Ni đều nêu rõ điểm xuất xứ Phật dạy và có kèm theo sau đó là một mẩu chuyện, nêu rõ lý do mà Phật nói ra câu Kinh đó.

Bản dịch Lời phật dạy của luật sư Đinh Sĩ Trang

Có một bản dịch được khá ít người biết đến đó là bản dịch Lời Phật Dạy của luật Đinh Sĩ Trang. Bản dịch này cũng là dịch sang tiếng Việt của quyển Kinh Pháp Cú được ấn hành tại Úc năm 1997. Có lẽ vì lí do đó mà khá ít người Việt Nam biết đến bản dịch này.

145 bài trong tổng 423 bài kệ Kinh Pháp Cú

Dưới đây là 145 bài kệ nằm trong 10 Phẩm đầu trên tổng số 423 bài kệ của quyển Kinh Pháp Cú do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch lại. Cùng với một số hình ảnh mô phỏng các lời dạy đầu tiên trong mỗi phẩm được Họa sĩ Mr. P. Wickramanayaka vẽ và thể hiện để độc giả có thể tham khảo.

Phẩm song yếu

Phẩm song yếu

 

  1. Ý dẫn đầu các pháp

Ý làm chủ, ý tạo;

Nếu với ý ô nhiễm,

Nói lên hay hành động,

Khổ não bước theo sau,

Như xe, chân vật kéo.

  1. Ý dẫn đầu các pháp,

Ý làm chủ, ý tạo;

Nếu với ý thanh tịnh,

Nói lên hay hành động,

An lạc bước theo sau,

Như bóng, không rời hình.

  1. Nó mắng tôi, đánh tôi,

Nó thắng tôi, cướp tôi

Ai ôm hiềm hận ấy,

Hận thù không thể nguôi.

  1. Với hận diệt hận thù,

Ðời này không có được.

Không hận diệt hận thù,

Là định luật ngàn thu.

  1. Và người khác không biết,

Chúng ta đây bị hại.

Chỗ ấy, ai hiểu được

Tranh luận được lắng êm.

  1. Ai sống nhìn tịnh tướng,

Không hộ trì các căn,

ăn uống thiếu tiết độ,

biếng nhác, chẳng tinh cần.

Ma uy hiếp kẻ ấy,

như cây yếu trước gió.

  1. Ai sống quán bất tịnh,

Khéo hộ trì các căn,

ăn uống có tiết độ,

Có lòng tin, tinh cần,

Ma không uy hiếp được,

Như núi đá, trước gió.

  1. Ai mặc áo cà sa. (Áo màu vàng, chỉ bậc xuất gia)

tâm chưa rời uế trược,

không tự chế, không thực,

không xứng áo cà sa

  1. Ai rời bỏ uế trược,

giới luật khéo nghiêm trì,

tự chế, sống chân thực,

thật xứng áo cà sa.

  1. Không chân, tưởng chân thật,

chân thật, thấy không chân:

chúng không đạt chân thật,

do tà tư, tà hạnh.

  1. Chân thật, biết chân thật,

Không chân, biết không chân:

chúng đạt được chân thật,

do chánh tư, chánh hạnh.

  1. Như mái nhà vụng lợp,

Mưa liền xâm nhập vào.

Cũng vậy tâm không tu,

Tham dục liền xâm nhập.

  1. Như ngôi nhà khéo lợp,

Mưa không xâm nhập vào.

Cũng vậy tâm khéo tu,

Tham dục không xâm nhập.

  1. Nay sầu, đời sau sầu,

Kẻ ác, hai đời sầu;

Nó sầu, nó ưu não,

Thấy nghiệp uế mình làm.

  1. Nay vui, đời sau vui,

Làm phước, hai đời vui,

Nó vui, nó an vui,

Thấy nghiệp tịnh mình làm.

  1. Nay than, đời sau than,

Kẻ ác, hai đời than,

Nó than: ‘Ta làm ác’

Ðọa cõi dữ, than hơn.

  1. Nay sướng, đời sau sướng,

Làm phước, hai đời sướng.

Nó sướng: ‘Ta làm thiện’,

Sanh cõi lành, sướng hơn.

  1. Nếu người nói nhiều kinh,

Không hành trì, phóng dật;

Như kẻ chăn bò người,

Không phần Sa môn hạnh.

  1. Dầu nói ít kinh điển,

Nhưng hành pháp, tùy pháp,

Từ bỏ tham, sân, si,

Tĩnh giác, tâm giải thoát,

Không chấp thủ hai đời,

Dự phần Sa môn hạnh.

Phẩm Không Phóng Dật

Phẩm Không Phóng Dật

 

  1. Không phóng dật, đường sống,

Phóng dật là đường chết.

Không phóng dật, không chết,

Phóng dật như chết rồi.

  1. Biết rõ sai biệt ấy,

Người trí không phóng dật,

Hoan hỷ, không phóng dật,

An vui hạnh bậc Thánh.

  1. Người hằng tu thiền định,

Thường kiên trì tinh tấn.

Bậc trí hưởng Niết Bàn,

Ðạt an tịnh vô thượng.

  1. Nỗ lực, giữ chánh niệm,

Tịnh hạnh, hành thận trọng

Tự điều, sống theo pháp,

Ai sống không phóng dật,

Tiếng lành ngày tăng trưởng.

  1. Nỗ lực, không phóng dật,

Tự điều, khéo chế ngự.

Bậc trí xây hòn đảo,

Nước lụt khó ngập tràn.

  1. Chúng ngu si, thiếu trí,

Chuyên sống đời phóng dật.

Người trí, không phóng dật,

Như giữ tài sản quý.

  1. Chớ sống đời phóng dật,

Chớ mê say dục lạc.

Không phóng dật, thiền định,

Ðạt được an lạc lớn.

  1. Người trí dẹp phóng dật,

Với hạnh không phóng dật,

Leo lầu cao trí tuệ,

Không sầu, nhìn khổ sầu,

Bậc trí đứng núi cao,

Nhìn kẻ ngu, đất bằng.

  1. Tinh cần giữa phóng dật,

Tỉnh thức giữa quần mê.

Người trí như ngựa phi,

Bỏ sau con ngựa hèn.

  1. Ðế Thích không phóng dật, (Ðế Thích: Magha (Manavaka), vị lãnh đạo chư Thiên)

Ðạt ngôi vị Thiên chủ.

Không phóng dật, được khen ;

Phóng dật, thường bị trách.

  1. Vui thích không phóng dật,

Tỷ kheo sợ phóng dật,

Bước tới như lửa hừng,

Thiêu kiết sử lớn nhỏ.

  1. Vui thích không phóng dật,

Tỷ kheo sợ phóng dật,

Không thể bị thối đọa,

Nhất định gần Niết Bàn.

Phẩm Tâm

Phẩm Tâm

 

  1. Tâm hoảng hốt giao động,

Khó hộ trì, khó nhiếp,

Người trí làm tâm thẳng,

Như thợ tên, làm tên.

  1. Như cá quăng lên bờ,

Vất ra ngoài thủy giới;

Tâm này vùng vẫy mạnh,

Hãy đoạn thế lực Ma.

  1. Khó nắm giữ, khinh động,

Theo các dục quay cuồng.

Lành thay, điều phục tâm;

Tâm điều, an lạc đến.

  1. Tâm khó thấy, tế nhị,

Theo các dục quay cuồng.

Người trí phòng hộ tâm,

Tâm hộ, an lạc đến.

  1. Chạy xa, sống một mình,

Không thân, ẩn hang sâu (Trú xứ của Thức)

Ai điều phục được tâm,

Thoát khỏi Ma trói buộc. (Bao gồm: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới)

  1. Ai tâm không an trú,

Không biết chân diệu pháp,

Tịnh tín bị rúng động,

Trí tuệ không viên thành.

  1. Tâm không đầy tràn dục,

Tâm không (hận) công phá,

Ðoạn tuyệt mọi thiện ác,

Kẻ tỉnh không sợ hãi.

  1. Biết thân như đồ gốm,

Trú tâm như thành trì,

Chống Ma với gươm trí ;

Giữ chiến thắng không tham

  1. Không bao lâu thân này,

Sẽ nằm dài trên đất,

Bị vất bỏ, vô thức,

Như khúc cây vô dụng.

  1. Kẻ thù hại kẻ thù,

Oan gia hại oan gia,

Không bằng tâm hướng tà, (Ý chỉ hướng về 10 pháp bất thiện như sát sanh v.v…)

Gây ác cho tự thân.

  1. Ðiều mẹ cha bà con,

Không có thể làm được,

Tâm hướng chánh làm được

Làm được tốt đẹp hơn.

Phẩm Hoa

 

 

  1. “Ai chinh phục đất này

Dạ ma, Thiên giới này?

Ai khéo giảng Pháp cú,

Như người khéo hái hoa?”

  1. “Hữu học chinh phục đất,

Dạ ma, Thiên giới này.

Hữu học giảng Pháp cú,

Như người khéo hái hoa.”

  1. “Biết thân như bọt nước,

Ngộ thân là như huyễn,

Bẻ tên hoa của ma,

Vượt tầm mắt thần chết.”

  1. “Người nhặt các loại hoa,

Ý đắm say, tham nhiễm,

Bị thần chết mang đi,

Như lụt trôi làng ngủ.”

48. Người nhặt các loại hoa,

Ý đắm say tham nhiễm,

Các dục chưa thỏa mãn,

Ðã bị chết chinh phục.”

  1. “Như ong đến với hoa,

Không hại sắc và hương,

Che chở hoa, lấy nhụy.

Bậc Thánh đi vào làng “.

  1. “Không nên nhìn lỗi người,

Người làm hay không làm.

Nên nhìn tự chính mình.

Có làm hay không làm.”

  1. “Như bông hoa tươi đẹp,

Có sắc nhưng không hương.

Cũng vậy, lời khéo nói,

Không làm, không kết quả.”

  1. “Như bông hoa tươi đẹp,

Có sắc lại thêm hương;

Cũng vậy, lời khéo nói,

Có làm, có kết quả.”

  1. “Như từ một đống hoa,

Nhiều tràng hoa được làm.

Cũng vậy, thân sanh tử,

Phải làm nhiều việc lành.”

  1. “Hương các loại hoa thơm

Không ngược bay chiều gió

Nhưng hương người đức hạnh

Ngược gió khắp tung bay

Chỉ có bậc chân nhân

Tỏa khắp mọi phương trời.”

  1. “Hoa chiên đàn, già la,

Hoa sen, hoa vũ quý,

Giữa những hương hoa ấy,

Giới hương là vô thượng.”

  1. “Ít giá trị hương này,

Hương già la, chiên đàn;

Chỉ hương người đức hạnh,

Tối thượng tỏa Thiên giới.”

  1. “Nhưng ai có giới hạnh,

An trú không phóng dật,

Chánh trí, chơn giải thoát,

Ác ma không thấy đường.”

  1. “Như giữa đống rác nhớp,

Quăng bỏ trên đường lớn,

Chỗ ấy hoa sen nở,

Thơm sạch, đẹp ý người.”

  1. “Cũng vậy giữa quần sanh,

Uế nhiễm, mù, phàm tục,

Ðệ tử bậc Chánh Giác,

Sáng ngời với Tuệ Trí.”

Phẩm Ngu

 

 

  1. “Ðêm dài cho kẻ thức,

Ðường dài cho kẻ mệt,

Luân hồi dài, kẻ ngu,

Không biết chơn diệu pháp.”

  1. “Tìm không được bạn đường,

Hơn mình hay bằng mình,

Thà quyết sống một mình,

Không bè bạn kẻ ngu.”

  1. “Con tôi, tài sản tôi,

Người ngu sanh ưu não,

Tự ta, ta không có,

Con đâu, tài sản đâu.”

  1. “Người ngu nghĩ mình ngu,

Nhờ vậy thành có trí.

Người ngu tưởng có trí,

Thật xứng gọi chí ngu.”

  1. “Người ngu, dầu trọn đời,

Thân cận người có trí,

Không biết được Chánh pháp,

Như muỗng với vị canh.”

  1. “Người trí, dầu một khắc,

Thân cận người có trí,

Biết ngay chân diệu pháp,

Như lưỡi với vị canh.”

  1. “Người ngu si thiếu trí,

Tự ngã thành kẻ thù.

Làm các nghiệp không thiện,

Phải chịu quả đắng cay.”

  1. “Nghiệp làm không chánh thiện,

Làm rồi sanh ăn năn,

Mặt nhuốm lệ, khóc than,

Lãnh chịu quả dị thục.”

  1. “Và nghiệp làm chánh thiện,

Làm rồi không ăn năn,

Hoan hỷ, ý đẹp lòng,

Hưởng thọ quả dị thục.”

  1. “Người ngu nghĩ là ngọt,

Khi ác chưa chín muồi;

Ác nghiệp chín muồi rồi,

Người ngu chịu khổ đau.”

  1. “Tháng tháng với ngọn cỏ,

Người ngu có ăn uống

Không bằng phần mười sáu

Người hiểu pháp hữu vi.”

  1. “Nghiệp ác đã được làm,

Như sữa, không đông ngay,

Cháy ngầm theo kẻ ngu,

Như lửa tro che đậy.”

  1. “Tự nó chịu bất hạnh,

Khi danh đến kẻ ngu.

Vận may bị tổn hại,

Ðầu nó bị nát tan.”

  1. “Ưa danh không tương xứng,

Muốn ngồi trước tỷ kheo,

Ưa quyền tại tịnh xá,

Muốn mọi người lễ kính.”

  1. “Mong cả hai tăng, tục,

Nghĩ rằng (chính ta làm).

Trong mọi việc lớn nhỏ,

Phải theo mệnh lệnh ta ”

Người ngu nghĩ như vậy

Dục và mạn tăng trưởng.

  1. “Khác thay duyên thế lợi,

Khác thay đường Niết Bàn.

Tỷ kheo, đệ tử Phật,

Hãy như vậy thắng tri.

Chớ ưa thích cung kính,

Hãy tu hạnh viễn ly.”

Phẩm Hiền Trí

  1. “Nếu thấy bậc hiền trí,

Chỉ lỗi và khiển trách,

Như chỉ chỗ chôn vàng

Hãy thân cận người trí!

Thân cận người như vậy,

Chỉ tốt hơn, không xấu.”

  1. “Những người hay khuyên dạy,

Ngăn người khác làm ác,

Ðược người hiền kính yêu,

Bị người ác không thích.”

  1. “Chớ thân với bạn ác,

Chớ thân kẻ tiểu nhân.

Hãy thân người bạn lành,

Hãy thân bậc thượng nhân.”

  1. “Pháp hỷ đem an lạc,

Với tâm tư thuần tịnh;

Người trí thường hoan hỷ,

Với pháp bậc Thánh thuyết.”

  1. “Người trị thủy dẫn nước,

Kẻ làm tên nắn tên,

Người thợ mộc uốn gỗ,

Bậc trí nhiếp tự thân.”

  1. “Như đá tảng kiên cố,

Không gió nào giao động,

Cũng vậy, giữa khen chê,

Người trí không giao động.”

  1. “Như hồ nước sâu thẳm,

Trong sáng, không khuấy đục,

Cũng vậy, nghe chánh pháp,

Người trí hưởng tịnh lạc.”

  1. “Người hiền bỏ tất cả,

Người lành không bàn dục,

Dầu cảm thọ lạc khổ,

Bậc trí không vui buồn.”

  1. “Không vì mình, vì người.

Không cầu được con cái,

Không tài sản quốc độ,

Không cầu mình thành tựu,

Với việc làm phi pháp.

Vị ấy thật trì giới,

Có trí tuệ, đúng pháp.”

  1. “Ít người giữa nhân loại,

Ðến được bờ bên kia

Còn số người còn lại,

Xuôi ngược chạy bờ này.”

  1. “Những ai hành trì pháp,

Theo chánh pháp khéo dạy,

Sẽ đến bờ bên kia,

Vượt ma lực khó thoát.”

87.Kẻ trí bỏ pháp đen,

Tu tập theo pháp trắng.

Bỏ nhà, sống không nhà,

Sống viễn ly khổ lạc.”

  1. “Hãy cầu vui Niết Bàn,

Bỏ dục, không sở hữu,

Kẻ trí tự rửa sạch,

Cấu uế từ nội tâm.”

  1. “Những ai với chánh tâm,

Khéo tu tập giác chi,

Từ bỏ mọi ái nhiễm,

Hoan hỷ không chấp thủ.

Không lậu hoặc, sáng chói,

Sống tịch tịnh ở đời.”

Phẩm A La Hán

  1. “Ðích đã đến, không sầu,

Giải thoát ngoài tất cả,

Ðoạn trừ mọi buộc ràng,

Vị ấy không nhiệt não.”

  1. “Tự sách tấn, chánh niệm,

Không thích cư xá nào,

Như ngỗng trời rời ao,

Bỏ sau mọi trú ẩn.”

  1. “Tài sản không chất chứa,

Ăn uống biết liễu tri,

Tự tại trong hành xứ,

“Không vô tướng, giải thoát, ”

Như chim giữa hư không,

Hướng chúng đi khó tìm.”

  1. “Ai lậu hoặc đoạn sạch,

Ăn uống không tham đắm,

Tự tại trong hành xứ,

“Không, vô tướng giải thoát. ”

Như chim giữa hư không,

Dấu chân thật khó tìm. ”

  1. “Ai nhiếp phục các căn,

Như đánh xe điều ngự,

Mạn trừ, lậu hoặc dứt,

Người vậy, Chư Thiên mến.”

  1. “Như đất, không hiềm hận,

Như cột trụ, kiên trì,

Như hồ, không bùn nhơ,

Không luân hồi, vị ấy.”

  1. “Người tâm ý an tịnh,

Lời an, nghiệp cũng an,

Chánh trí, chơn giải thoát,

Tịnh lạc là vị ấy.”

  1. “Không tin, hiểu vô vi.

Người cắt mọi hệ lụy

Cơ hội tận, xả ly

Vị ấy thật tối thượng.”

  1. “Làng mạc hay rừng núi

Thung lũng hay đồi cao,

La Hán trú chỗ nào,

Ðất ấy thật khả ái “.

  1. “Khả ái thay núi rừng,

Chỗ người phàm không ưa,

Vị ly tham ưa thích,

Vì không tìm dục lạc.”

Phẩm Ngàn

  1. “Dầu nói ngàn ngàn lời,

Nhưng không gì lợi ích,

Tốt hơn một câu nghĩa,

Nghe xong, được tịnh lạc.”

  1. “Dầu nói ngàn câu kệ

Nhưng không gì lợi ích,

Tốt hơn nói một câu,

Nghe xong, được tịnh lạc.”

102 “Dầu nói trăm câu kệ

Nhưng không gì lợi ích,

Tốt hơn một câu pháp,

Nghe xong, được tịnh lạc.”

  1. “Dầu tại bãi chiến trường

Thắng ngàn ngàn quân địch,

Tự thắng mình tốt hơn,

Thật chiến thắng tối thượng.”

  1. “Tự thắng, tốt đẹp hơn,

Hơn chiến thắng người khác.

Người khéo điều phục mình,

Thường sống tự chế ngự.”

  1. “Dầu Thiên Thần, Thát Bà,

Dầu Ma vương, Phạm Thiên

Không ai chiến thắng nổi,

Người tự thắng như vậy.”

  1. “Tháng tháng bỏ ngàn vàng,

Tế tự cả trăm năm,

Chẳng bằng trong giây lát,

Cúng dường bậc tự tu.

Cùng dường vậy tốt hơn,

Hơn trăm năm tế tự.”

  1. “Dầu trải một trăm năm,

Thờ lửa tại rừng sâu,

Chẳng bằng trong giây lát,

Cúng dường bậc tự tu.

Cúng dường vậy tốt hơn,

Hơn trăm năm tế tự.”

  1. “Suốt năm cúng tế vật,

Ðể cầu phước ở đời.

Không bằng một phần tư

Kính lễ bậc chánh trực.”

  1. “Thường tôn trọng, kính lễ

Bậc kỳ lão trưởng thượng,

Bốn pháp được tăng trưởng:

Thọ, sắc, lạc, sức mạnh.”

110. Dầu sống một trăm năm

Ác giới, không thiền định,

Tốt hơn sống một ngày,

Trì giới, tu thiền định.”

  1. “Ai sống một trăm năm,

Ác tuệ, không thiền định.

Tốt hơn sống một ngày,

Có tuệ, tu thiền định.”

112 “Ai sống một trăm năm,

Lười nhác không tinh tấn,

Tốt hơn sống một ngày

Tinh tấn tận sức mình.”

  1. “Ai sống một trăm năm,

Không thấy pháp sinh diệt,

Tốt hơn sống một ngày,

Thấy được pháp sinh diệt.”

  1. “Ai sống một trăm năm,

Không thấy câu bất tử,

Tốt hơn sống một ngày,

Thấy được câu bất tử.”

  1. “Ai sống một trăm năm,

Không thấy pháp tối thượng,

Tốt hơn sống một ngày,

Thấy được pháp tối thượng.”

Phẩm Ác

  1. “Hãy gấp làm điều lành,

Ngăn tâm làm điều ác.

Ai chậm làm việc lành,

Ý ưa thích việc ác.”

  1. “Nếu người làm điều ác,

Chớ tiếp tục làm thêm.

Chớ ước muốn điều ác,

Chứa ác, tất chịu khổ.”

  1. “Nếu người làm điều thiện,

Nên tiếp tục làm thêm.

Hãy ước muốn điều thiện,

Chứa thiện, được an lạc.”

  1. “Người ác thấy là hiền.

Khi ác chưa chín muồi,

Khi ác nghiệp chín muồi,

Người ác mới thấy ác.”

  1. “Người hiền thấy là ác,

Khi thiện chưa chín muồi.

Khi thiện được chín muồi,

Người hiền thấy là thiện.”

  1. “Chớ chê khinh điều ác,

Cho rằng “chưa đến mình “,

Như nước nhỏ từng giọt,

Rồi bình cũng đầy tràn.

Người ngu chứa đầy ác

Do chất chứa dần dần.”

  1. “Chớ chê khinh điều thiện

Cho rằng “Chưa đến mình, ”

Như nước nhỏ từng giọt,

Rồi bình cũng đầy tràn.

Người trí chứa đầy thiện,

Do chất chứa dần dần.”

  1. “Ít bạn đường, nhiều tiền,

Người buôn tránh đường hiểm.

Muốn sống, tránh thuốc độc,

Hãy tránh ác như vậy.”

  1. “Bàn tay không thương tích,

Có thể cầm thuốc độc.

Không thương tích, tránh độc,

Không làm, không có ác.”

  1. “Hại người không ác tâm,

Người thanh tịnh, không uế,

Tội ác đến kẻ ngu,

Như ngược gió tung bụi.”

  1. “Một số sinh bào thai,

Kẻ ác sinh địa ngục,

Người thiện lên cõi trời,

Vô lậu chứng Niết Bàn.”

  1. “Không trên trời, giữa biển,

Không lánh vào động núi,

Không chỗ nào trên đời,

Trốn được quả ác nghiệp.”

  1. “Không trên trời, giữa biển,

Không lánh vào động núi,

Không chỗ nào trên đời,

Trốn khỏi tay thần chết.”

Phẩm Hình Phạt

  1. “Mọi người sợ hình phạt,

Mọi người sợ tử vong.

Lấy mình làm ví dụ

Không giết, không bảo giết.”

  1. “Mọi người sợ hình phạt,

Mọi người thích sống còn;

Lấy mình làm ví dụ,

Không giết, không bảo giết.”

  1. “Chúng sanh cầu an lạc,

Ai dùng trượng hại người,

Ðể tìm lạc cho mình,

Ðời sau không được lạc.”

  1. “Chúng sanh cầu an lạc,

Không dùng trượng hại người,

Ðể tìm lạc cho mình,

Ðời sau được hưởng lạc.”

  1. “Chớ nói lời ác độc,

Nói ác, bị nói lại,

Khổ thay lời phẩn nộ,

Ðao trượng phản chạm mình.”

  1. “Nếu tự mình yên lặng,

Như chiếc chuông bị bể.

Ngươi đã chứng Niết Bàn

Ngươi không còn phẩn nộ.”

  1. “Với gậy người chăn bò,

Lùa bò ra bãi cỏ;

Cũng vậy, già và chết,

Lùa người đến mạng chung.”

  1. “Người ngu làm điều ác,

Không ý thức việc làm.

Do tự nghiệp, người ngu

Bị nung nấu, như lửa.”

  1. “Dùng trượng phạt không trượng,

Làm ác người không ác.

Trong mười loại khổ đau,

Chịu gấp một loại khổ.”

  1. “Hoặc khổ thọ khốc liệt,

Thân thể bị thương vong,

Hoặc thọ bệnh kịch liệt,

Hay loạn ý tán tâm.”

  1. “Hoặc tai họa từ vua,

Hay bị vu trọng tội;

Bà con phải ly tán,

Tài sản bị nát tan.”

  1. “Hoặc phòng ốc nhà cửa

Bị hỏa tai thiêu đốt.

Khi thân hoại mạng chung,

Ác tuệ sanh địa ngục.”

  1. “Không phải sống lõa thể

Bện tóc, tro trét mình,

Tuyệt thực, lăn trên đất,

Sống nhớp, siêng ngồi xổm,

Làm con người được sạch,

Nếu không trừ nghi hoặc.”

142 “Ai sống tự trang sức,

Nhưng an tịnh, nhiếp phục,

Sống kiên trì, phạm hạnh,

Không hại mọi sinh linh,

Vị ấy là phạm chí,

Hay sa môn, khất sĩ.”

  1. “Thật khó tìm ở đời,

Người biết thẹn, tự chế,

Biết tránh né chỉ trích

Như ngựa hiền tránh roi.”

  1. “Như ngựa hiền chạm roi,

Hãy nhiệt tâm, hăng hái,

Với tín, giới, tinh tấn,

Thiền định cùng trạch pháp.

Minh hạnh đủ, chánh niệm,

Ðoạn khổ này vô lượng.”

  1. “Người trị thủy dẫn nước,

Kẻ làm tên nắn tên,

Người thợ mộc uốn ván,

Bậc tự điều, điều thân.”

 

Xem thêm nguồn tại đây: https://phatgiao.org.vn/kinh-phap-cu-nguon-goc-y-nghia-va-cach-tri-tung-d48863.html

linh phù tài lộc

Linh phù tài lộc là gì ? Có những loại linh phù nào?

Linh phù là lá bùa mang ý nghĩa phù hộ cho chủ nhân gia chủ với các mục đích nhau như: thi cư, tình duyên, kinh doanh, may mắn, sức khỏe,…Tùy vào mỗi đối tượng mà lá bùa này phù có những ký hiệu thể hiện chức năng công dụng thần kỳ khác nhau. Bài viết dưới đây của thietkenhathoho.com sẽ giúp bạn tìm hiểu kĩ về Linh phù.

Linh Phù là gì?

Linh Phù là gì?

 

Linh Phù được biết đến rộng rãi có nguồn gốc xuất xứ từ Ấn, hay còn được gọi là bùa Ấn. Bùa Linh Phù có nhiều hình dạng khác nhau, chủ yếu mọi kí hiệu thể hiện về tài lộc, tình duyên,…Ngày trước nhiều pháp sư dùng giấy vẽ những bức linh phù cho người dân đem về cất trong người hoặc đem cho người khác để làm bùa hộ mệnh bản thân.

Linh Phù mang yếu tố tâm linh giúp người dùng bùa tin tưởng vào điều mình sẽ làm nhiều được về công việc kinh doanh, thi cử,…Giúp tinh thần người được phù hộ thêm vững vàng niềm tin hơn, mọi chuyện ước nguyện sẽ được suôn sẻ. Lá bùa này giúp chủ nhân của nó tránh gặp phải những chuyện xui xẻo, bệnh tật,…mọi thứ đều sẽ tai qua nạn khỏi trong khi gặp nguy nan, khó khăn trong cuộc sống.

Ngày nay linh phù được cải biến thành hình dán nhỏ lên điện thoại kèm theo đó là giảm độ bức xạ của điện thoại đến người tiêu dùng hạn chế tốt các tác động xấu của sóng âm truyền đến con người ở mức tối đa nhất.

Nguồn gốc ra đời của linh phù

Ngày trước một người muốn có được linh phù hiệu nghiệm để mang bên mình thì phải đến nhờ một thầy pháp sử có tiếng tâm giỏi về thuật và đạo hạnh cao biết nhiều phép để làm bùa ấn cho mọi người linh nghiệm mang đến đời sống tinh thần hạnh phúc, an yên. Vì thế mà bạn cần tìm những nơi uy tín để xin linh phù vì không phải ai cũng có năng lực cao cường để làm linh phù.

Nguyên liệu để làm linh phù nhất định phải sử dụng là linh bút, mực chu sa và giấy vàng thì mới tạo thành lá bùa. Vẽ linh phù không đơn giản mà được thể hiện bởi những đường nét tinh tế, mang ý nghĩa và mục đích đem lại cho người sử dụng như thế nào. Phẩm hạn của người vẽ linh phù càng cao thì càng hiệu nghiệm bởi họ đã truyền sức mạnh của mình vào lá bùa này.

Linh Phù dán điện thoại có tốt không?

Linh Phù dán điện thoại có tốt không?

 

Ngày nay linh phù không phải là tờ giấy nhỏ như đơn sơ như ngày trước, mà họ sẽ sản xuất nhiều hình dáng màu vàng với nhiều hình dáng linh phù khác nhau. Mỗi người sẽ có mục đích sử dụng linh phù khác nhau, những cô gái thì sẽ chọn linh phù liên quan đến tình duyên. Còn đối với những người chuyên buôn bán họ sẽ thường dán lên điện thoại mình lá linh phù may mắn, thần tài, bình an,…Để công việc làm ăn luôn thuận lợi, buôn may bán đắt, gặp nhiều mối làm ăn lớn giúp doanh nghiệp thêm vững mạnh.

Linh phù dán vào ốp lưng điện thoại thường là những ốp lưng trong suốt nhưng dễ bay mà và trơn trượt mất. Linh phù ngày nay bán trên các sàn thương mại rất phổ biến dù bạn là ai cũng dễ dàng sở hữu một loại linh phù cho mình.

Linh Phù có tác dụng gì? 

Linh Phù có tác dụng gì? 

 

Linh phù có xuất xứ từ xa xưa đã được ông bà ta vận dụng vào đời sống mà vẫn giữ được nét đặc trưng đến tận bây giờ. Mọi người thường đem theo bên mình để giúp dòng linh khí của mình thêm vượng, từ đấy mà người có luồng linh khí này luôn sẽ gặp vận may mở ra một cuộc sống bình yên mà thuận lợi hơn trước. Mọi điều xấu đến với chủ nhân linh phù đều sẽ hóa nguy thành an, những tai ương bủa vây cũng sẽ dần biến mất. Nhưng hơn hết người dùng bùa phải có lòng tin ở bản thân, thay đổi và cố gắng hoàn thiện những mục tiêu trong cuộc sống của chính bản thân mình.

Các loại Linh Phù Phổ biến

Có 3 loại linh phù phổ biến nhất hiện nay có thể kể đến Linh phù tự nhiên, Linh phù nhân tạo, Linh phù nhân tạo phép ấn. Tùy vào địa phương nơi bạn sinh sống mà chọn linh phù phù hợp.

Phù tự nhiên

Linh Phù trong tự nhiên có khả năng mang lại điềm may cho con người, ngoài ra những nơi mà linh phù này ở thường xuyên thì cây cối tươi tốt, mạnh khỏe, vùng đất ấy sẽ hội tụ nhiều linh khí tốt.

Linh phù sẽ xuất hiện trên các loài động thực vật nhỏ như kí hiệu trên thân cây, lá cây, trên vỏ ốc có hình xoắn ốc tạo thành hình phù hay con nhện chăng tơ có hình dáng tựa linh phù. Bạn có thể mang đem về và mang theo bên người hằng ngày.

Phù Nhân tạo

Linh phù được phổ biến rộng rãi và không chỉ còn nằm trên một tờ giấy đơn giản nữa mà nó còn là những kí hiệu chạm khắc trên gỗ, đồ gốm, đồ đồng,…Linh phù nhân tạo cũng sẽ có nhiều chức năng khác nhau dựa trên các kí hiệu mà người ta nhận dạng chức năng chính yếu của nó. 

Ngày nay giới trẻ đã sáng chế ra linh phù dáng điện thoại với nhiều hình dạng khác nhau, với nhiều mục đích sử dụng khác nhau nhằm mang đến cho nguời dùng nhiều sự lựa chọn và nơi cất giữ an toàn, không vướng víu như xưa.

Phép trấn bằng Phù Nhân tạo

Mọi phép phù đều được làm với mục đích tăng linh khí vượng cho chủ nhân và có khả năng trừ tà, thanh lọc sinh khí trên người mình trở nên tốt đẹp hơn. Ngoài ra linh phù có thể đem dán trước nhà ở cửa, cổng, lối vào nhà hoặc một góc nào đó trong nhà để giải hạn cho nhà mình.

Các dạng Linh Phù Phổ biến nhất hiện nay

Một số loại linh phù hiện nay giúp bạn giải vận xui cho bạn, gặp nhiều may mắn giúp con đường đời thuận lợi, dễ dàng hơn.

Linh phù may mắn

Linh phù may mắn

 

Người nào cũng muốn mình có thật nhiều may mắn đến với mình mà không biết phải làm sao vì thế họ thường tìm đến những lá bùa có thể hỗ trợ họ giúp họ gặp nhiều may mắn trong cuộc sống. Thường họ muốn có thật nhiều may mắn đến từ nhiều khía cạnh khác nhau, giúp cuộc đời lúc nào cũng tràn ngập vận may, bước đi dễ dàng hơn trong cuộc đời.

Linh phù Ngũ lộ thần tài

Linh phù Ngũ lộ thần tài

 

Cung Tài Phúc là biểu tượng của tiền tài vật chất trong cuộc sống, mà vị thần cai quản cung này là ông Thần Tài. Vì thế mà nhà nào làm ăn đều thờ ông với ý niệm buôn may bán đắt, tiền bạc vào như nước. Thần tài sẽ có nhiều 4 vị bộ hạ như chiêu bảo (bảo vật), chiêu tài ( tiền tài), nạp trân (thu vật báu), chiêu tài (gọi tiền tài về), lợi thị (buôn bán có lợi) tùy mục đích của bạn mà bạn chọn một vị hạ bộ để thờ phụng hay mang theo bên mình. Người làm ăn kinh doanh nào cũng mang lá bùa này bên mình để buôn may bán đắt, công việc có nhiều mối làm ăn lớn, có nhiều quý nhân giúp đỡ trong công việc.

Linh phù công danh

Công danh sự nghiệp không chỉ quan trọng đối với phái nam mà ngày nay giới nữ cũng rất quan tâm, xã hội hiện đại phụ nữ không còn ở nhà nhiều như xưa nữa, mà lao ra làm việc nhiều như nam giới. Phù hộ cho bạn có nhiều bước ngoặt lớn đánh dấu sự nghiệp thành đạt của bản thân hay giúp mình thi cử tốt hơn ở những kì thi lớn như kỳ thi đại học.

Linh phù chuyển vận tài lộc

Linh phù chuyển vận tài lộc tức sẽ xấu thành tốt, hóa nguy thành an. Mọi thứ trong cuộc sống đều suôn sẻ, công việc làm ăn gặp nhiều may mắn giúp chủ nhân lá bùa luôn hạnh phúc vui vẻ với đời sống của chính mình.

Linh phù Hôn nhân hòa hợp

Linh phù Hôn nhân hòa hợp

 

Linh phù Hôn nhân giúp chủ nhân lá bùa duy trì mối quan hệ vợ chồng vui vẻ, hạnh phúc, mọi mẫu thuận được hòa giải, thấu hiểu người đầu ấp tay gối của mình. Mối quan hệ này sẽ không có người thứ 3 chen chân vào cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng. Bên cạnh đó, con cái cũng sẽ ngoan ngoãn, hiếu thuận với bố mẹ hơn.

Linh phù Bình an

Không ai trông đời mong mình gặp tai ương hay biến cố, họ đều ước mình có cuộc sống bình yên, hạnh phúc với những người thân thương bên mình. Linh phù Bình an sẽ phù hộ cho bạn gặp mọi chuyện thuận lợi, nhất là khi bạn thực hiện những chuyến đi xa nhà. Linh phù Bình an có nhiều loại khác mang tên như: linh phù tránh hạn 100 tai ương, linh phù ngũ lôi trừ tà,…

Linh phù Tình duyên

Linh phù Tình duyên

 

Nhiều người hay đi chùa để cầu tình duyên đặc biệt là phái nữ thường đem về cho mình một lá bùa để đường tình duyên hết trắc trở nhất là những cô gái trong tuổi lấy chồng. Lá bùa này giúp mình tăng sự duyên dáng từ bản thân và khí chất của mình toát ra đối với người khác phái làm thu hút người khác, tạo dấu ấn đặc biệt với người mình yêu thương.

Linh phù Tây Tạng

Tây Tạng là vùng đất linh thiên mang nhiều màu sắc tâm linh, bí ẩn. Bùa Tây Tạng được ví như một loại bùa tâm linh hơn bởi những câu chuyện nhiệm màu xoay quanh nó, càng làm tô vẽ thêm sức mạnh của lá bùa này.

Linh phù Buôn may bán đắt

Linh Phù có tác dụng gì? 

 

Càng là chủ doanh nghiệp lớn thì không thể thiếu linh phù buôn may bán đắt được, bởi bất kỳ chủ doanh nghiệp đều mong muốn sản phẩm của mình đến tay nhiều người tiêu dùng và thương hiệu mình ngày càng lớn mạnh giúp thu về nhiều hợp đồng, mang tiền tài thu về lớn.

Linh phù Quý nhân phù trợ

Lá bùa Quý nhân phù trợ này luôn là lá được sử dụng nhiều, vì trong cuộc sống ai ai cũng muốn có người giúp đỡ mình để công việc thuận buồm xuôi gió hay dẫn dắt mình khi mình chưa có kinh nghiệm hay tài sản gì trong tay. Hoặc trong những lúc khó khăn nhất trong đời bạn vẫn được quý nhân giúp đỡ, hỗ trợ bạn về nhiều mặt giúp cải thiện lại đời sống của mình và gia đình đây là một điều đáng quý và may mắn nhất trong cuộc đời.

Linh phù Sức khỏe

Linh phù Sức khỏe

 

Mang lại sức khỏe cho chủ nhân lá bùa, dù có bệnh tật gì nặng cũng có thể vượt qua hết. Cuộc sống sẽ bình an, ít gặp sóng gió hơn trước. Bạn có thể xin lá bùa này giúp người thân làm quà tặng, mong họ luôn có sức khỏe dồi dào.

Linh phù Thái tuế

Linh phù Thái tuế sẽ giúp bạn hóa giải mọi trắc trở về công việc như gặp nhiều chuyện thị phi, công việc gặp nhiều khó khăn không thể giải quyết,…Thì lá bùa này sẽ giúp bạn giảm những tiêu cực trên người để mang lại nhiều may mắn hơn.

Linh phù Thái Tuế phù hợp nhất với những người có tuổi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, tuổi khác có thể sử dụng nhưng hiệu quả không bằng.

Linh phù tài lộc

Linh phù tài lộc

 

Linh phù tài lộc rất hợp với những người chuyên làm kinh doanh giúp thu hút tài lộc và con đường kinh doanh ngày càng rộng mở ít gặp sóng gió, gặp được quý nhân phù trợ nên ngày càng thêm phát đạt vinh hiển. Ngoài khả năng tăng tài vượng, tiền tài thì lá bùa này còn giúp bạn tránh gặp kẻ tiểu nhân hay họa hại thân, tai ương,…không may ập đến.

Những lưu ý khi sử dụng Linh Phù

Linh Phù chỉ có công hiệu cao khi nó được bảo quản tốt và luôn là tín vật bất ly thân bên mình. Khi sử dụng linh phù thì cần đặt trong ốp lưng điện thoại hay nhét dưới gối nằm tránh làm lạc mất hay bị các tác nhân bên ngoài làm hư hại linh phù, làm mất đi khả năng linh nghiệm của nó. Linh phù cần tránh tiếp xúc nhiều với môi trường nước vì có thể làm bay mất chữ trên linh phù, làm vơi đi bớt hiệu nghiệm của nó, lâu dần thì hiệu nghiệm trên linh phù sẽ không còn nữa mà trở thành một lá bùa bình thường không còn hoạt động linh nghiệm như trước.

Linh phù có mục đích chính là hóa mọi điềm hung thành an. Nếu bạn có ý định sử dụng linh phù với mục đích khác thì kết quả sẽ không hiệu nghiệm. Giống như bạn mua linh phù cầu sức khỏe lại mong linh phù đó cầu buôn may bán đắt thì sẽ không có hiệu nghiệm. Mỗi kí hiệu linh phù sẽ tượng trưng cho một ý nghĩa khác nhau, bạn muốn cầu điều gì thì mua linh phù mang ý nghĩa đó.

Bạn cần tư vấn thiết kế nhà thờ họ hoặc những công trình kiến trúc tâm linh có thể liên hệ với Acc Home theo số điện thoại 0977 703 776 hoặc hòm thư điện tử thietkenhathohodep@gmail.com các kiến trúc sư của chúng tôi sẽ giúp bạn có những không gian chuẩn tâm linh nhất.

Cách hóa giải nghiệp chướng

Nghiệp chướng là gì? Làm thế nào để hóa giải nghiệp chướng ?

Mỗi người đều gặp phải những xui xẻo, khó khăn, áp lực, công việc bất ổn, gặp vấn đề tinh thần, gia đình bất hạnh, bệnh tật,… Rồi kêu than đó là do “nghiệp chướng”. Vậy nghiệp chướng là gì? Tại sao ta lại phải gánh vác? Nó ảnh hưởng như nào? Ta phải làm những việc gì để giải thoát? Đó là những câu hỏi luôn được mọi người thắc mắc. Nếu bạn đang cần giải đáp những câu hỏi như trên, thì đây là bài viết dành cho bạn. Hãy cùng thietkenhathoho.com tìm hiểu về Nghiệp chướng.

Nghiệp chướng là gì?

 

Nghiệp chướng là gì?

Không nên làm điều ác để tạo ra nghiệp ác.

Nghiệp chướng thường được dùng trong đạo Phật, là từ ngữ xuất hiện trong những bài giảng của Đức Phật. Nghiệp chướng được ghép lại bởi từ “nghiệp” và từ “chướng”. Nên trước khi hiểu về khái niệm nghiệp chướng ta phải tìm hiểu ý nghĩa của 2 từ này. 

Nghiệp: được biểu hiện cho sự khởi đầu cho những suy nghĩ, hành động, lời nói, cử chỉ của mỗi người. Hay đó có thể là kết quả của sự tạo nghiệp của con người, nhưng cần phải xem xét theo từng tình huống để xác định. Những suy nghĩ trong thâm tâm ta chính là sự khởi đầu cho những tư tưởng dẫn đến lời nói và cử chỉ mang nghiệp cho bản thân. Nhìn chung, nghiệp được tạo ra bởi chính suy nghĩ, lời nói, hành động, cách sống của chúng ta. Hay còn gọi đó là tạo nghiệp. Hậu quả của việc tạo nghiệp, đó là tất cả những nghiệp mà ta phải mang. Nghiệp sẽ tiếp nối tuần hoàn và tăng lên nếu ta không làm điều lành.

Chướng: là ý chỉ những chướng ngại trong công việc, đời sống sinh hoạt, các mối quan hệ,… Đây sẽ là vật cản bên ngoài ảnh hưởng đến cuộc sống mỗi người.

Vậy nghiệp chướng là gì? Ta có hiểu một cách nôm na đó là kết quả của những hành động, suy nghĩ, cử chỉ, lời nói, tư tưởng của một cá nhân. Từ đó làm cản trở cho công việc, đời sống, các mối quan hệ của chính bản thân.

Theo vị trí ta sẽ nghĩ nghiệp sẽ có trước, chướng sẽ có sau. Tuy nhiên, những chướng ngại mới gây ra những tác động khiến ta tạo ra nghiệp. Vậy nghiệp chướng ý chỉ điều xấu?. Đó là suy nghĩ sai, vì nó không hoàn toàn nói về những điều xấu mà còn nói về những điều lành. Những điều lành đó còn được gọi là Thiện nghiệp. Theo ghi chép, Thiện nghiệp có 3 đường thiện là Trời, Người, Atula. Còn 3 đường ác là địa ngục, ác quỷ, súc sinh. Vì thế nếu là điều lành hay điều ác đều gọi chung là tạo nghiệp.

Hai loại nghiệp báo phổ biến

Không sát sanh

 

Theo như Phật giáo đã giảng dạy ta sẽ có 2 loại nghiệp phổ biến nhất đó là: dẫn nghiệp và mãn nghiệp. 

Dẫn nghiệp

Dẫn nghiệp được hiểu là nghiệp dẫn dắt chúng sanh vào sáu cõi như sau:

  • Cõi thiện sẽ có: cõi Trời, cõi Người, cõi Atula.
  • Cõi ác sẽ có: cõi súc sinh, cõi ác quỷ, cõi địa ngục.

Đối với con mắt loài người sẽ không thấy được cõi Trời và cõi Atula. Những người tồn tại ở 2 nơi này sẽ tuổi thọ cao và nhiều phép biến hóa hơn loài người gấp vạn lần. Mặc dù đôi mắt ta không thể thấy được họ, nhưng họ vẫn tồn tại để phù trợ cho ta. Dân gian ta hay gọi họ là vị thần, quỷ, vị tiên.

Còn ở nơi cõi ác thì loài người ta sẽ không thấy những người trong cõi ác quỷ và địa ngục. Loài ác quỷ thường có chiếc bụng to, cổ họng thì lại rất bé. Chính vì vậy mà loài này rất hay đói, nên được gọi là quỷ đói. Đây chính là đặc điểm để nhận dạng ra ác quỷ. Còn những người trong cõi địa ngục thì chịu khổ đến mức chính loài người không hình dung được. Còn súc sinh thì vô vàn loại, đặc điểm chung là cấu xé nhau, vẫn có trường hợp ngoại lệ. Gia súc, chó, mèo, heo, ngựa, trâu đây là một trong những loại súc sinh tiêu biểu nhất. Đây đều quá quen thuộc với loài người, nên chúng ta cũng biết được loài này sống cực khổ đến nhường nào. Trong chính đời sống mỗi người đều quên rằng nếu ta không ngay thẳng, không làm điều bác ái, không mở rộng từ bi, thì chính lúc ta qua đời sẽ sinh ra là chính súc sinh. Nếu ta cứ coi thường, sống theo lối sống của loài súc sinh thì điều đó sẽ xảy ra.

Cho nên bản thân ta cũng phải đi tìm hiểu về cách vận hành của nghiệp, đặc biệt là dẫn nghiệp. Mục tiêu của nghiệp sinh ra đó chính là nhắc nhở ta phải sống có ý nghĩa, khiến ta chủ động tạo ra những nghiệp lành cho đời này lẫn đời sau, giúp ta không phải đi vào cõi ác mà được tái sanh trên cõi thiện, dắt ra đến nơi cõi là cõi Trời, được giác ngộ và giải thoát.

Ngoài gọi với tên dẫn nghiệp, Phật giáo còn gọi là tái sanh nghiệp. Bởi vì đây là hành động của con người tạo ra nghiệp lành hoặc ác, nó sẽ quyết định tương lai sẽ được tái sinh của mỗi một cá nhân, và cả những điều xảy ra trong đời sống sinh hoạt ở đời sau.

Một ví dụ điển hình, để ta thấy những hành động tạo ra nghiệp ác sẽ quyết định tương lai tái sinh của một người. Người đó sẽ đi vào một trong 3 cõi ác là địa ngục, ác quỷ, súc sinh. Đó chính là hành động cố ý giết chết cha, mẹ, thánh A la hán, làm Phật bị thương, phá đi sự hoàn thuận của vị Tăng. Được gọi đây 5 tội lớn tày trời (ngũ nghịch). Nếu phạm phải một trong 5 tội trên thì sẽ tái sinh vào cõi ác. Đối với 5 tội này được coi là những tội không thể chấp nhận được, sẽ khó được tha thứ. Thể hiện người này không giữ 5 giới, sống buông thả, không siêng năng tu tâm theo thập thiện lành. Nếu không ăn năn, sám hối thì sẽ bị đọa vào ba cõi ác. May mắn thay thì cũng sinh ra làm người nhưng sống bất hạnh, bệnh tật, đau ốm, bị chê bai, sống không thọ.

Mãn Nghiệp

Sau khi ta được tái sinh sống trong thân thể con người, những điều hạnh phúc trong đời này, nhưng của cải ta có trong đời này, danh vọng và sự nghiệp có được đều là quả báo mà kiếp trước ta tu tâm được. Những quả báo đó ta nhận được là do:

  • Bố thí tiền bạc sẽ được giàu sang .
  • Bố thí pháp sẽ được trí thông minh.
  • Bố thí sự bác ái, giúp đỡ mọi người sẽ được sống trường thọ.

Ta hãy cố gắng làm đủ 3 bố thí này, để gặt được bảo vô cùng viên mãn, sẽ được giàu có, sự thông minh, sức khỏe tốt và trường thọ. Mặc dù là như vậy ta vẫn thấy có người sống trong nhung lụa nhưng lại không thông minh, nhưng họ vẫn có thể trở thành những người rất tài giỏi. Những người này khi làm chủ, nhân viên sẽ dốc lòng làm việc cho họ, sẽ trả lại nợ đã hiểu để báo ân cho họ. Bởi thế nên người có lòng tu tâm thiện chí sẽ được những mãn nghiệp tốt cho bản thân.

Nếu kiếp trước không cố gắng tu thì chắc chắn cuộc sống đời sau sẽ gặp khó khăn, bất hạnh. Phật giáo luôn cố gắng giúp ta thấu hiểu được sự siêng năng sẽ giúp ta thu hoạch được quả ngọt. Hãy cố gắng hết sức khi còn thời gian. Nếu chỉ còn một thời gian ngắn ngủi, thì vẫn phải nỗ lực, quả báo vẫn sẽ có, vận mệnh ta vẫn sẽ thay đổi tốt lên. Vận mệnh ta có thay đổi theo hướng thiện không đều nằm trong cách sống của chính ta. Vì vậy ngay bây giờ ta hãy sống với tâm thiện, hành động đẹp, sẽ gặt được những quả báo tốt đẹp hơn mỗi ngày. Nhưng nếu bây giờ ta vẫn trì trệ, sống tâm ác, không làm hành động đẹp sẽ khiến ta không tăng công đức mà còn mất đi những phước lành ta đang có. Một khi những phước lành đã bị tổn hao đi hết thì 3 cõi ác sẽ dần hiện ra ở tương lai. Thực tế có rất nhiều gia đình giàu có, kinh doanh rất tốt nhưng sau đó vài năm thì phá sản, đó chính là hình ảnh phước lành đã bị tiêu tan. Để nhận được công đức cũng không phải quá khó, nhưng mất đi cũng rất dễ dàng. Đây là đạo lý ta phải hiểu rõ để giúp bản thân trong hiện tại và tương lai.

Tại sao phải hóa giải nghiệp chướng

Lợi ích của việc siêng năng niệm Chú Đại Bi

 

Phật Pháp luôn dạy ta về luật nhân quả, nếu ta sống tạo ra nghiệp lành ắt hẳn sẽ gặp những điều may mắn, tốt đẹp trong cuộc sống. Nhưng nếu ta sống tạo ra nghiệp ác sẽ gây ra vô vàn những khó khăn trong đời sống, nên ta buộc phải giải nghiệp. 

Khi hóa giải nghiệp xấu chính bản ta phải luôn sáng suốt, hành động một cách có suy nghĩ, nhẫn nhịn, kiên trì để thành thói quen. Nhờ điều đó mà ta dần dần sẽ sống với tâm ý như vậy, đó chính là thói quen tốt đẹp Phật muốn ta học. Mỗi một lời nói, tâm ý, hành động phải luôn cẩn trọng để tránh mang đến những hậu quả xấu cho bản thân mình.

Khi ta làm điều sai trái dẫn đến có nghiệp ác, ta phải giải nghiệp các sớm nhất có thể. Việc hóa giải không chỉ giúp ta xóa tan đi nghiệp ác mà phần nào khiến tâm thanh thản, an bình, không lo lắng, không sợ hãi. Đồng thời cũng có thể xóa đi cả tội lỗi của quá khứ. Giải đi những nghiệp chướng sẽ giúp ta tìm được con đường khiến ta có phẩm chất đẹp, đạo đức tốt và noi theo các bậc Thánh để sáng suốt, từ bi. Khi xóa tan được những nghiệp chướng thì phước lành cũng sẽ đến với ta. Lúc đó sẽ được sống hạnh phúc, gặp được những điều may mắn và được mọi người yêu thương.

Cách để hóa giải nghiệp chướng

Đến chùa phật cô đơn cầu gì?

 

Nghiệp là gồm có nghiệp lành và nghiệp ác. Nghiệp thiện sẽ sinh ra điều may mắn. tốt đẹp cho tương lai, còn nghiệp ác thì phải tìm cách hóa giải ngay lập tức.

Cách hóa giải nghiệp chướng tốt nhất đó là tuệ và định. Tuệ có nghĩa là sáng suốt, nghĩ kĩ càng trước khi hành động hay nói. Định có nghĩa là kiên định trước mọi việc, không dễ bị ảnh hưởng đến suy nghĩ, lời nói, hành động của mình. Khi có đủ 2 yếu tố tuệ và định mới có thể thoát khỏi vòng luân hồi, phán đoán và giải quyết vấn đề hợp lý nhất. Nên ta luôn được dạy phải làm điều tốt tránh làm điều xấu gây ra nghiệp ác cho sau này. Lưu ý, khi ta làm điều lành không được tính toán để không tạo nghiệp chướng.

Khi làm bất cứ điều gì bản thân phải luôn nhớ đến giới, định, tuệ để nhắc nhở bản thân sống ngay thẳng. Mỗi người đều có hoàn cảnh khác nhau, nên khi người khác mắc lỗi không được so đo mà hãy tìm hiểu và tìm hướng giải quyết. Nhờ vậy mà ta sẽ thành công không tạo nghiệp ác mà còn giải nghiệp tận gốc.

Sau đây là những cách cụ thể hơn để giúp ai đang mang nghiệp ác có thể xóa đi mang lại niềm vui trong thâm tâm:

Xóa đi mọi oán hận với người khác

Xóa đi mọi oán hận với người khác

 

Lời giảng dạy của Đức Phật

Mỗi người đều có những tính cách khác nhau, nên sẽ dễ có những hiểu lầm với nhau. Chúng ta không bao giờ có thể sống vừa lòng tất cả mọi người được. Nhưng đừng để những việc đó ảnh hưởng đến cuộc sống, khiến bản thân sinh nghiệp ác. Để tiêu tan nghiệp phải sống mở lòng, nhẫn nhịn, tha thứ đây là cách hữu hiệu nhất. Khi gặp những việc như vậy, hãy đến với Phật. Hãy sống như Người để lòng được thanh thản, trong tâm toàn là điều thiện, không sân si với đời.

Tự sám hối, niệm kinh Phật

Tự sám hối, niệm kinh Phật

 

Thành tâm bái Phật để người giúp đỡ.

Mỗi người hãy cố gắng dành thời gian ăn chay, sám hối, niệm Phật cách thành tâm để hóa giải hậu quả của nghiệp. Nhưng không phải ta sám hối nhiều lần thì nghiệp ác sẽ tiêu tan. Đối với việc những việc này sẽ sinh ra công đức giúp ta giải đi phần nào chứ không diệt tận gốc. Cho nên phải thực hiện mỗi ngày, nhiều buổi khác nhau trong ngày, thành tâm thì sẽ bớt đi dần nghiệp chướng.

Làm việc bác ái, tích thêm công đức

Làm việc bác ái, tích thêm công đức

 

Cho đi để thêm phước lành

Không chỉ có Sám hối, niệm kinh, chay tịnh sẽ giải trừ nghiệp chướng mà còn phải làm những việc bác ái xuất phát từ tâm để chuộc tội. Nếu bản thân niệm kinh Phật mỗi ngày, nhưng lại làm những hành động xấu và suy nghĩ những việc hãm hại người khác thì rất khó giải trừ. Bởi vậy ta phải cứu giúp những người đang gặp khó khăn. Đây là việc mà bất kể trường học, mọi người khắp nơi không phân biệt ngôn ngữ và tôn giáo đều muốn ta thực hiện. Xã hội hiện nay muốn hướng con người sống văn minh và giúp đỡ người khác. Ngoài giúp người khác, còn giúp bản thân tích đức. Đây là một việc rất đơn giản và thiết thực trong đời sống. Ta có thể tham gia hiến máu nhân đạo để giúp những người đang giành giật với tử thần để được sống. Ngoài ra ta có thể giúp cho các bạn bị tật nguyền, vô gia cư, bị ung thư, già yếu không có người thân chăm sóc,… nhớ đó phước lành sẽ đến với ta.

Phóng sanh muôn loài

 

Phóng sanh muôn loài

Phóng sanh là hành động mang công đức nhiều nhất.

Tránh sát sinh là một trong những điều thiện thập nghiệp muốn dạy ta. Việc ta cứu những sinh vật tội nghiệp trước cái chết sẽ được phước lành to lớn. Phóng sinh dù chỉ một lần cũng sẽ được ân huệ đời đời, từ đó nhận vô vàn ân phúc. Đối với việc phóng sinh động vật thì loài nào cũng tốt, nhưng nếu được ta có thể ưu tiên theo thứ tự như sau:

  • Loài chó, mèo, trâu, bò, ngựa: đây là loài trung thành và tình cảm với con người nhiều nhất.
  • Loài rùa, ba ba, lươn, rắn: đây là những loài có tính tâm linh. Nếu phóng sinh một trong những loài này sẽ gặp những màu nhiệm, may mắn kỳ lạ.
  • Loài cá trê, ếch, nhái: biểu hiện cho sự khao khát sống, rất mạnh mẽ.
  • Những loài đang sắp sinh nên được ưu tiên hàng đầu để phóng sanh.

Chính ta phải nhớ rằng phóng sanh muôn loài cũng là bảo vệ mạng sống của tổ tiên, dòng tộc, những người thân thiết đã qua đời của ta nay được tái sinh. Nên phóng sinh được coi cách hóa giải nhanh và được nhiều ơn phước nhất.

Sống với tấm lòng từ bi

Sống với tấm lòng từ bi

 

Sống mở rộng lòng từ bi như Đức Phật

Nghiệp chướng khiến cuộc sống ta trở nên bất hạnh, rồi dẫn đến những phiền não của bản thân. Ngoài ra có những người lại vì ham danh vọng, sân si, tham tiền của để rồi tự tạo ra nghiệp ác. Cột lõi của việc giải thoát nghiệp ác đó chính vượt qua phiền não của bản thân. Tâm an bình, không lo lắng sẽ càng tiêu tan đi nhiều hơn.

Bởi vậy ta không nên thù hằn với bất cứ ai. Hãy bao dung, tha thứ cho người khác cũng là cho chính bản thân mình. Được gọi là phương pháp đơn giản nhất, nhưng không phải ai cũng làm được nếu không muốn thực hiện.

Khi ta sống với tấm lòng từ bi như Đức Phật, ta sẽ gạt bỏ đi những sân si và ganh ghét người khác. Chính những điều đó khiến tâm ta lung lay, mất phương hướng, dễ sa đọa. Những khi đã làm được sẽ sống hạnh phúc và không tạo nghiệp ác.

Bạn cần tư vấn thiết kế nhà thờ họ hoặc an thờ tại gia có thể liên hệ với Acc Home theo số điện thoại 0977 703 776 hoặc hòm thư điện tử thietkenhathohodep@gmail.com các kiến trúc sư của chúng tôi sẽ giúp bạn có những không gian hoàn hảo nhất.

những cấm kỵ không được làm trên ban thờ

Những điều cấm kỵ trên bàn thờ bạn nên biết

Bàn thờ là nơi vô cùng linh thiêng kết nối 2 cõi âm dương, do đó khi sắp xếp bất kỳ vật gì gia chủ cũng cần phải tính toán kỹ lưỡng, để tránh phạm phải những điều cấm kỵ trên bàn thờ khiến gia đình lục đục, bất hòa, sức khỏe suy yếu. Dưới đây, thietkenhathoho.com xin tổng hợp những điều cấm kỵ khi bài trí, sắp xếp, lựa chọn các vật phẩm thờ cúng trên bàn thờ, mời các bạn cùng theo dõi.

Một số điều cấm kỵ về vị trí và hướng lập bàn thờ

Một số điều cấm kỵ về vị trí và hướng lập bàn thờ

 

Theo phong cách thiết kế nội thất của những ngôi nhà ba gian truyền thống xưa, bàn thờ gia tiên thường được đặt tại gian chính giữa ngôi nhà. Lâu dần cách bài trí này đã trở thành thói quen và nét đẹp văn hóa của người dân. Tuy nhiên, nếu nhà bạn được xây theo lối hiện đại có nhiều diện tích rộng và nhiều phòng riêng, và tuân theo một số quy tắc sau: 

  • Không đặt bàn thờ ngược với hướng cửa chính nhà vì điều này rất độc.
  • Chọn hướng đặt bàn thờ hợp với tuổi của chủ nhà.
  • Không đặt bàn thờ ở cuối hành lang, lối đi lại, đối diện nhà vệ sinh, nhà bếp, gầm cầu thang, trên nóc tủ quần áo.
  • Hệ thống đèn chiếu sáng cần phải được lựa chọn kỹ lưỡng, kích thước và KW phù hợp với diện tích phòng thờ. 
  • Nên bố trí đèn sao cho ánh sáng không chiếu thẳng vào người ngồi khi hành lễ cúng bái.
  • Tường có treo tranh nên bố trí thêm hai đèn âm tường cân xứng hai bên bức tranh tạo sự lung linh, trang nghiêm hơn cho không gian thờ cúng.

Kiêng kỵ về thời gian và người lập bàn thờ

Kiêng kỵ về thời gian và người lập bàn thờ

 

Về thời gian và người lập bàn thờ cũng có một số kiêng kỵ nhất định. Việc lập bàn thờ thường được tiến hành đồng thời với thời gian nhập trạch để không làm ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống sau này. Ngoài ra, người ta cho rằng phụ nữ mang thai có nhiều tạp khí, không nên động chạm vào bát hương và bàn thờ khi tiến hành lập bát hương. Người cúng cần là người có tâm, tay chân sạch sẽ, quần áo chỉnh tề. Gia chủ có thể tự bốc bát hương mà không nhất thiết phải nhờ người khác.

Những cấm kỵ trong cách bố trí vật phẩm trên bàn thờ

Những cấm kỵ trong cách bố trí vật phẩm trên bàn thờ

 

Bàn thờ là nơi thờ cúng gia tiên chứ không phải nơi trưng bày hay phô trương khoe mẽ, những thứ không liên quan đến thờ cúng ta không bày lên bàn thờ, nhất là giấy tờ công đức ở đình chùa. Dưới đây là một số điều cấm kỵ trên bàn thờ mà bạn cần biết.

Không nên thờ 3 họ trên bàn thờ

Không nên thờ 3 họ trên bàn thờ

 

Thông thường bàn thờ gia tiên hiện nay của các gia đình chỉ thờ thần linh, bà cô ông mãnh và gia tiên bên nội. Cũng có gia đình bốc thêm bát hương thờ họ ngoại. Nếu có thêm họ ngoại, ta sắp xếp theo thứ tự, ở giữa là thần linh, bên trái là họ nội, bên phải đặt họ ngoại. Không nên thờ thêm. Đối với bàn thờ này, nếu gia chủ muốn thờ thêm bát hương cô bé cậu bé đỏ tại gia, bà cô ông mãnh thì nên lập thêm bàn thờ phụ.

Nếu thờ gia tiên cùng Phật hay thờ mẫu, cần tách riêng bàn thờ Phật hay thờ mẫu, bàn thờ gia tiên để thấp hơn và tách biệt

Không để bát hương chông chênh và lệch về một phía

Mỗi một vùng miền và tôn giáo khác nhau sẽ có cách đặt số lượng, kích thước và cách bài trí khác nhau. Nhưng nhìn chung, họ đều đảm bảo bát nhang để chính giữa, cân xứng với bàn thờ để đảm bảo sự uy nghi, tôn kính với người đã khuất. 

Nếu gia chủ muốn phân cấp bát hương trên bàn thờ thì cần mua thêm tam cấp để bát hương. Tuyệt đối không được kê cao bát hương bằng giấy hoặc gạch, đá khiến bát hương bị chông chênh, dẫn đến việc động bát hương, không tốt cho phong thủy.

Không xê dịch bát nhang

Việc lau dọn, giữ cho bàn thờ của gia đình sạch sẽ giúp thể hiện sự tôn tính, kính trọng với thần linh và tổ tiên. Tuy nhiên, những vật dụng dùng để lau dọn bàn thờ như chổi, khăn… phải là đồ sạch sẽ, mới, để riêng, không dùng chung với việc khác.

Đặc biệt, trong quá trình bao sái bàn thờ, rút tỉa chân hương, gia chủ cần tiến hành cẩn thận, tuyệt đối không được làm xê dịch bát nhang khỏi vị trí ban đầu. Bởi nếu lỡ xê dịch một chút cũng vẫn có thể làm kinh động đến thần linh, gia tiên.

Tuyệt đối không dùng cát để bỏ vào trong bát hương

Tuyệt đối không dùng cát để bỏ vào trong bát hương

 

Gia chủ không được tự ý chèn cát vào trong bát hương trên bàn thờ vì nó sẽ khiến bát hương không linh nghiệm, gia đình gặp phải chuyện không may, lục đục, cãi vã. Bạn cần dùng tro nếp đã loại bỏ tạp chất để chèn bát hương. Bạn có thể tham khảo kỹ hơn tại bài viết bốc cốt bát hương để hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Trên bàn thờ không dùng bát hương bằng đá 

Gia đình nên dùng bát hương bằng gốm sứ hoặc bằng đồng để thờ cúng, không nên dùng bát hương bằng đá trên bàn thờ tại gia vì nó sẽ ảnh hưởng đến đường tài lộc của các thành viên trong gia đình. Bát hương đá sẽ phù hợp sử dụng ở chùa, miếu, đình hơn.

Những cấm kỵ về lễ vật trên bàn thờ

Những cấm kỵ về lễ vật trên bàn thờ

 

Về lễ vật thờ cúng trên bàn thờ, gia chủ cần chú ý, không thắp hương hoa quả giả bằng nhựa, cũng như các loại quả có gai nhọn, vỏ sần sùi (tham khảo chi tiết trong bài viết cách sắp xếp hoa quả thắp hương). Mà cần chọn hoa tươi, quả ngon, nước sạch để cúng kiếng thần linh, gia tiên. Đồ thờ cúng xong thì bỏ xuống để thụ lộc, tránh bày để lâu ngày từ mùng 1 sang đến hôm rằm. Và tuyệt đối không để lễ mặn nên bàn thờ Phật.

Trên đây là một số điều bạn cấm kỵ trên bàn thờ, mong rằng những thông tin trên sẽ giúp ích được nhiều cho bạn. Cảm ơn quý độc giả đã quan tâm theo dõi.

Nếu bạn cần tư vấn thiết kế nhà thờ họ hoặc những công trình kiến trúc tâm linh có thể liên hệ với Acc Home theo số điện thoại 0977. 703. 776 hoặc hòm thư điện tử thietkenhathohodep@gmail.com các kiến trúc sư của chúng tôi sẽ giúp bạn có những không gian thờ cúng chuẩn tâm linh nhất.

thập thiện nghiệp của con người

Thập thiện nghiệp là gì?

Đối với những Phật tử có lẽ đã quá quen với Thập Thiện Nghiệp, được biết đến là nguồn gốc của tất cả pháp lành nơi dương gian. Muốn chấm dứt khỏi vòng luân hồi, bản thân nên vượt qua nấc thang cốt lõi của nghiệp con người gặp phải. Bài viết dưới đây của thietkenhathoho.com sẽ giúp bạn tìm hiểu sâu hơn, từ đó ngộ ra lời Phật dạy.

Khái niệm về nghiệp

Khái niệm về nghiệp

Thập thiện nghiệp – Mười điều nghiệp lành

Mỗi một căn nhà, mỗi một tổ ấm, mỗi một cá thể không phải ai cũng giống nhau. Tất cả chúng ta đều mang những bản chất riêng biệt, tính cách khác nhau. Sẽ có những người ấm no, kẻ giàu sang, có những người sinh ra mang khiếm khuyết, lại có nhiều người tài năng. Chính sự bất công đó cũng có ta thấy được nghiệp mà mỗi người đang gánh trên vai. Tất cả đều do chính bản thân, nên ta cũng phải ý thức về hành động mình làm ở quá khứ, hiện tại, và tương lai.

Có người sẽ hỏi sao: Tại sao mình lại sống trong nghèo khổ? Tại sao tôi lại cứ đau khổ như vậy? Tại sao mọi người đều hạnh phúc, nhưng tôi lại không? Tại sao họ lại giàu như vậy? Tại sao người mắc căn bệnh này lại là tôi? Tại sao tôi lại rời xa ba mẹ mình? Ba sao con không có đôi tay như bạn con ạ? Mẹ ơi bạn đó bị làm sao vậy ạ? Con không có ba mẹ ạ?… Hàng ngàn, hàng triệu những câu hỏi biểu hiện cho những nỗi bất hạnh mà con người chúng ta đang chịu đựng. Đó không phải là sự sắp xếp ngẫu nhiên, tất cả đều là nghiệp từ kiếp trước đã để lại.

Đức Phật đã dạy ta rằng: “Tất cả chúng sanh đều mang “nghiệp chướng” của mình, của tổ tiên, của dòng dõi. Chính nghiệp (Kamma) đã tạo ra sự riêng biệt của chúng sanh, mỗi người một tình cảnh cao thấp ”. Hiểu được điều đó ta phải có trách nhiệm cho cuộc sống của mình. Bởi chính chúng ta là người mang lại công đức hay là nghiệp. Chính chúng ta sẽ lựa chọn cánh cửa cho cuộc sống hiện tại và tương lai. Hạnh phúc hay bất hạnh đều là do ta chọn.

Nghiệp chính là những hành động cố ý, có hiểu biết, tự ý thức được. Nghiệp được chia thành nghiệp tốt và nghiệp xấu. “Gieo nhân nào gặt quả nấy”, nếu làm việc thiện thì thu hoạch sự lành, làm việc ác thì gặt được ác báo. Đối với quả cũng có quả chín, quả chua, quả ngọt, quả cứng,… Nếu ta ý thức được hành động và hiểu biết sẽ tạo ra mùi vị quả ta mong muốn. Cuộc sống hiện tại là quả thu hoạch của mình trước kia. Hãy nhìn lấy quả đó mà ý thức đến hành động bản thân. Như vậy cũng góp phần tăng công đức cho bản thân. Hãy ý thức đến tương lai của chúng ta.

Đây chính là một trong vô số những quy luật vận hành vũ trụ này. Đây không phải do đấng sáng tạo tạo ra mà nó vận hành một cách tự nhiên. Nếu ta hiểu được ý nghĩa của nghiệp sẽ phần nào có niềm tin về mặt đạo đức và tâm linh. Hiểu được quy luật đó ta cũng sẽ cố gắng làm việc thiện, bác ái, giúp mọi người từ đó tự tin hơn không còn bi quan, tự ti, tuyệt vọng. Không gì ngăn cản được ta, quyền lựa chọn do bản thân.

Thập thiện nghiệp là gì?

Thập thiện nghiệp là gì?

 

Phải biết kính sợ, tin vào luật nhân quả

Theo như ta tìm hiểu về Nghiệp, nói rằng việc ta sống thiện lành hay xấu xa sẽ ảnh hưởng đến quả ta thu hoạch. Bởi ta muốn cuộc sống an lạc ở hiện tại và cả đời sau, ta phải cố gắng tu tâm theo Thập Thiện Nghiệp.

Đây sẽ bước tiến lớn để nhanh đến cõi Tây phương cực lạc, nơi những điều ta mong ước thành hiện thực. Trên con đường tu hành để được chứng quả, có rất nhiều thử thách và học hỏi nhiều điều để hiểu về Phật. Thập Thiện Nghiệp cũng được coi là nấc thang cơ bản, quan trọng mà ta phải lên được. Vì đó chính là nguồn gốc của phước lành nơi dương gian này.

Thập thiện nghiệp bao gồm những gì?

Thập thiện nghiệp thường được gọi ngắn gọn là thập thiện, hay còn được gọi là thập thiện giới. Mặc dù có nhiều cách gọi những tất đều hướng đến mười loại nghiệp thiện mang đến phước lành. Mười loại đó là:

  • Không sát sanh
  • Không trộm cắp
  • Không tà dâm
  • Không nói dối
  • Không thêu dệt
  • Không thâm thọc
  • Không nói thô ác
  • Không xan tham
  • Không sân hận
  • Không si mê

Nghiệp được chia thành nghiệp dữ và nghiệp lành. Phía trên được nêu đó chính là mười loại nghiệp lành (thập thiện nghiệp). Mười loại nghiệp được chia theo: Thân (hành động), Khẩu (lời nói), Ý (ý nghĩ).

  • Thân gồm có ba loại: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm.
  • Khẩu gồm có bốn loại: Không nói dối, không thêu dệt, không thâm thọc, không nói nói thô ác.
  • Ý gồm có ba loại: Không xan lam, không sân hận, không si mê.

Không sát sanh

Không sát sanh

 

Phạm tội sát sanh sẽ gặp báo ứng.

Mỗi người chúng ta đều có nỗi sợ đó là cái chết, nhất là bị sát hại bởi người khác. Chẳng ai muốn mình không bị giết, không rời khỏi thế gian quá đột ngột. Việc không ai hại ta cũng được coi là một ân huệ lớn.

Hãy nhớ lại những hình ảnh khi con chim bị nhổ lông, một con cá bị cắt vây, con gà bị cắt cổ,… nhưng tưởng tượng xem nếu được thả ra thì chúng vui sướng biết bao. Chim được thả về bầu trời tự do, tung bay, hót líu lo. Cá thì về vùng biển trong xanh, bơi lội, vùng vẫy. Gà thì ăn thóc, chăm cho đàn gà con, cục ta cục tác mỗi ngày. Đó lại là những hình ảnh đẹp, hạnh phúc, tự do khi được thoát khỏi nạn bị giết hại. Chúng ta cũng sẽ như vậy, sẽ vui mừng và hạnh phúc khi được sống đời an nhiên. Vì vậy, ta không nên sát sanh sinh vật mà lại phóng sanh, hành động này là nghiệp lành đứng đầu trong Thập Thiện Nghiệp.

Việc ta không sát sanh sinh vật, cũng như không ăn thì ta tránh được hai tội nặng như sau:

  • Thứ nhất, là giết hại các vị Phật vị lai. (“Vị lai” có nghĩa là “chưa đến” hay thuộc về “tương lai”).
  • Thứ hai, là giết nhầm và ăn nhầm phải người trong dòng dõi, tổ tiên nhiều đời trước.

Chính vị Bồ tát đã dạy ta rằng: “Tất cả chúng sanh trên dương gian này đều là họ hàng, dòng dõi, tổ tiên, ba mẹ, ông bà của ta đã qua đời nay được sinh lại nhiều đời nhiều kiếp”

Nếu ta ghi nhớ và không sát sanh thì trong đời sống sẽ được mở rộng tấm lòng từ bi, từ đó hình thành thói quen, một nhân cách tốt để tu hành thành Phật, được nhận mười loại nghiệp lành. Được thể hiện rõ trong kinh Thập Thiện Nghiệp như sau:

  1. Được người đời yêu mến.
  2. Tấm lòng từ bi rộng mở với mọi người.
  3. Bỏ đi những thói xấu, giận hờn, ganh ghét.
  4. Thân thể và tinh thần luôn khỏe mạnh và phấn chấn.
  5. Trường thọ, sống lâu dài.
  6. Được các vị Thánh bảo vệ, giúp đỡ.
  7. Được ngủ ngon giấc, không gặp những điềm báo dữ
  8. Tránh được những thù oán
  9. Không bị đọa vào ba đường ác (địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh).
  10. Sau khi chết đi, được lên cõi Trời bên Đức Phật.

Không trộm cắp

Không trộm cắp

 

Hưởng phước lành sinh ra trên cõi Trời.

Trộm cắp là hành động lấy đi những đồ vật không thuộc quyền sở hữu của mình, người sở hữu không cho mình lấy.

Quyền sở hữu là một quyền quan trọng, đây cũng là sự tự do riêng của mỗi người. Mạng sống của ta là tài sản quý. Nhưng nếu không có lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà cửa, những vật dụng cần thiết để sinh hoạt thì ta không thể nào sống được.

Vì thế cơm, áo, gạo, tiền phải có trong cuộc sống và đi kèm đó là sự nỗ lực làm việc của mỗi người. Để có được tài sản cá nhân trong hiện tại và tương lai cho mình và con cái, mỗi người đều phải trải qua những công việc rất cực nhọc để đạt được.

Tài sản cá nhân là mồ hôi nước mắt quý giá. Nếu vì một việc không hay xảy ra, bị mất đi tài sản thì phải đau khổ, phiền não. Cảm giác như vừa mất đi một phần sinh mạng của mình. Đã có rất nhiều người đã gặp tình trạng này dẫn đến mất ăn mất ngủ, thất vọng, sinh ra bệnh tật,…Vậy ai nỡ lòng mà trộm đi công sức của người khác cho đành.

Tính theo lẽ công bằng ta không lấy đồ của người khác, thì chẳng ai lấy của mình. Nếu bản thân không muốn bị buồn phiền thì mình cũng không được làm khổ ai cả. Xã hội này phải tôn trọng lẽ công bằng như vậy, nhờ đó mà mới tồn tại được.

Đối với những người trộm cắp, ý nghĩ xấu xa lấy đi của người khác cũng sẽ không nhận được điều tốt lành. Bị người đời khinh chê, sống đời tủi nhục, ảnh hưởng đến gia tộc. Những gì trộm được cũng sẽ mất đi, đó là hậu quả của việc coi thường lẽ công bằng.

Còn đối với những người thiện lành, lúc nào cũng sống đời an nhiên và thanh thản. Không phải lo lắng, xấu hổ bất cứ việc gì, bởi họ không làm điều ác. Chẳng có ai oán trách, thù hận. Một xã hội không có trộm cắp, không giành giật, không tranh giành sẽ là xã hội thái bình an lạc.

Theo kinh Thập Thiện Nghiệp ghi chép, nếu ta không trộm cắp sẽ được những phước lành như sau:

  1. Tiền của dư giả không bị cướp mất, không bị tịch thu, không bị thiên tai và gia đình ảnh hưởng đến tài sản.
  2. Được người đời tin cậy.
  3. Không bị lừa gạt, gian dối
  4. Được người đời khen ngợi về đức tính ngay thẳng.
  5. Tâm an yên, không lo sợ về bất cứ sự tổn hại nào.
  6. Khi qua đời sẽ được sanh ra trên cõi Trời.

Không tà dâm

Những suy nghĩ say mê sắc dục cách thái hóa hay còn gọi là dâm dục, được coi là cái nhân dẫn đến vòng sinh tử luân hồi. Đây là bức tường cản trở cho những vị Phật tử muốn tu hành để được giải thoát. Cũng vì điều đó, rất nhiều người trước khi xuất gia, phải trải qua giai đoạn tu tâm để trừ đi sự dâm dục trong thâm tâm.

Còn đối những người tại gia, thì chỉ phần nào ngăn đi tâm ý sắc dục đó. Chỉ khi nên duyên vợ chồng mới chính thức được sống chung, nhưng phải nhớ không ngoại tình, loạn lạc.

Trong đời sống gia đình, không được “chồng ăn chả vợ ăn nem”, sống chung với nhau phải giữ cho tổ ấm hạnh phúc. Khi chính vợ chồng hiểu nhau, yêu thương thì từ đó làm ăn phất lên, sự nghiệp ổn định, gia đình hai bên hòa hợp, mọi người xung quanh yêu quý.

Kinh Thập Thiện Nghiệp đã nói nếu giữ được mình được sẽ được 4 điều phước lành như sau:

  1. Sáu giác quan của cơ thể đều được đầy đủ.
  2. Tránh được những ưu phiền, u sầu.
  3. Không ai làm ảnh hưởng đến đời sống gia đình.
  4. Được người đời khen ngợi, yêu mến.

Không nói dối

Nói dối là một việc ai cũng đã làm, nhưng với dụng ý khác nhau. Đôi lúc lời nói dối để nói tránh đi, phần nào giúp đỡ người khác. Nhưng đối với Phật giáo dạy rằng, nói dối ở đây là làm trái đi những điều trong lòng. Ta nghĩ như thế nào thì cứ nói như vậy, sai là sai, đúng là đúng, không là không.

Có người nói rằng nói dối điều gì đó để đùa giỡn sẽ không có gây hại gì. Thực tế, lời nói dối đó vẫn có hại, đó là khởi đầu dẫn đến thói quen xấu cho bản thân. Từ đó là cho lời nói của bản thân không còn được coi trọng, không ai tin tưởng, kể cả khi đó là sự thật.

Nếu ta nói dối vì khi đó ta sợ hãi, nhục chí, lãng tránh đi dần dần ta có thói quen không nói sự thật, tội lỗi của mình và chẳng sửa chữa nó. Còn đối với nói dối để mang lại lợi ích cá nhân, hay khoe với người khác, đó là tội nặng. Người người buôn bán hay nói dối để khách mua hàng là điển hình, dễ thấy nhất. Đặc biệt, người nói dối rằng mình đã được chứng quả để lợi dụng niềm tin người khác sẽ mắc đại tội, bị đọa vào ba đường ác.

Trường hợp đặc biệt nói dối vì để cứu mạng sống hay giúp đỡ mới không tính là phạm tội. Nhưng ta cũng không nên quá lệ thuộc.

Theo kinh Thập Thiện Nghiệp, người nói lời ngay thẳng, sự thật sẽ được những phước lành như sau:

  1. Miệng nói người lời trong sạch, thơm tho.
  2. Người đời kính mến, tôn trọng.
  3. Chỉ nói những lời vui vẻ.
  4. Trí khôn, trí tuệ hơn người.
  5. Mọi điều mong ước đều thành sự thật trên cõi Trời.

Không thêu dệt

Không được nói những lời thêu dệt, ý chỉ đừng nói những lời đường mật, nói quá đà, không đúng với thực tế, không lợi dụng những câu nói đó để làm hại và làm điều sai trái. Người nói những lời nói thêu dệt là người có ý muốn dùng niềm tin của người khác để trục lợi cho bản thân. Khi sự thật bại lộ sẽ bị người đời chỉ trích, khinh bỉ, tránh xa để không ảnh lợi dụng.

Những người chơi đùa với niềm tin người khác rồi cũng sẽ bị hại như vậy. Tất cả của cải đạt được đều không lâu dài, tất cả rồi cũng sẽ mất, vì tất cả không phải do học cực nhọc làm ra.

Theo kinh Thập Thiện Nghiệp, người không nói lời thêu dệt sẽ được ban phước lành như sau:

  1. Được những người uyên bác, có học thức yêu quý.
  2. Những câu hỏi khó khăn gặp phải đều có câu trả lời.
  3. Được các vị Thánh coi trọng trong cõi Trời.

Không thâm thọc

Ý chỉ những người sống hai mặt, đi nói xấu người khác cả hai bên. Đem những chuyện cá nhân của nhau ra dèm pha, chê trách, nhạo báng, khiến cho cả đôi bên thù ghét nhau, tóm gọn lại là trung gian khiến hai bên ác cảm. Những người không thâm thọc là người không có tâm ý xấu, trái lại giúp giảng hòa cả hai bên, cầu nối để thân thiết hơn.

Người không thâm thọc sẽ rất biết giữ sự riêng tư, cá nhân của người khác khi kể cho mình. Không mang chuyện của những người quen thuộc để bàn tán. Người này sẽ khiến mọi người yêu thương, hoàn thuận, khiến mọi người có niềm tin vào nhau, ai ai cũng vui vẻ. Những người hòa đồng như vậy sẽ được yêu quý, gặp việc khó đều được giúp đỡ.

Theo kinh Thập Thiện Nghiệp, người không sống hai mặt sẽ được những điều lành như sau:

  1. Gia đình, làng xóm, láng giềng luôn sum tụ.
  2. Tình anh em, bạn bè luôn bền vững.
  3. Niềm tin vững mạnh
  4. Phẩm chất, nhân cách được quý trọng.

Không nói thô ác

Không nói thô ác

 

Phật dạy phải suy nghĩ trước khi nói và hành động.

Không nói thô ác là nói những lời dễ nghe, khuyên bảo nhỏ nhẹ, không thô tục, cọc cằn, không nói nói những lời khiến người khác đau buồn, tủi nhục,…

Người không nói lời thô ác sẽ không dùng từ ngữ để nói về gia đình, xúc phạm ai mà sẽ nói lời tốt đẹp khiến ai cũng vui vẻ. Lời lẽ được chọn lọc, dịu dàng, thể hiện sự từ bi, đạo đức, nhân phẩm đẹp của người đó. Người đời nghe đều tôn trọng.

Theo kinh Thập Thiện Nghiệp, người không nói thô ác được những điều lành như sau:

  1. Lời nói khôn khéo, đúng ý, đúng mục đích.
  2. Lời đã thốt ra ai ai cũng tin theo.
  3. Lời nói không bị người đời coi thường mà còn được tôn trọng.

Không xan tham

Tiền bạc, nhan sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ là những ham muốn của con người, hay còn gọi là 5 món dục lạc. Đối với vài người đó là niềm vui hiện tại nhưng sau này là sự đau khổ. Ví như tham tiền, phải làm cực khổ kiếm tiền, đôi lúc làm những việc bất chính, khi không còn của cải lại đau xót vô cùng.

Còn tham sắc thì tốn tiền, chạy theo cái gọi là chuẩn mực, mất đi sức khỏe, tinh thần cũng sa sút, rồi lại đâm ra thù hằn người khác khi không được như ý muốn. Tham danh vọng thì làm trò cười cho thiên hạ, mất ăn mất ngủ, mất đi thể diện bản thân.

Tham ăn uống thì ăn đồ mỹ vị, ham ăn, ăn nhiều dẫn đến sức khỏe trì trệ, không sống thọ được. Tham ngủ nghỉ thì dậy trễ, tối thức, không làm việc dẫn đến người ngu đần, không sáng suốt. Ngũ lạc này cũng là cái nhân của vòng sinh tử luân hồi.

Cuộc sống của những người không tham lam vào 5 dục lạc này, sẽ không phải hao tổn tâm trí và sức khỏe. Chính họ sẽ được bình an, thanh thản, không phải lo lắng. Từ đó mà sức khỏe trường thọ, sống lâu.

Theo kinh Thập Thiện Nghiệp, người không tham lam sẽ nhận được những phước lành như sau:

  1. Không mắc phải nghiệp xấu.
  2. Tiền bạc không bị trộm cắp, mất mát.
  3. Hưởng lợi phúc đức
  4. Mọi sự tốt đẹp sẽ đến, dù không mong cầu.

Không sân hận

Không sân hận

 

Đời sống vui vẻ, an lành, hạnh phúc, bình an nơi thâm tâm

Không thù ghét, giận hờn là giữ sự bình tĩnh, ôn nhu, điềm đạm trước mọi vấn đề. Thù ghét, hận ai đó là một thói xấu. Bởi đây như ngọn lửa có thể đốt cháy đi những mối quan hệ của mình và mọi người xung quanh. Nên ta phải tập thói quen bình tĩnh xử lý tình huống. Bản thân nên suy nghĩ trước khi hành động và nói. Từ đó được mọi người tôn trọng, yêu mến ta.

Theo kinh Thập Thiện Nghiệp, người không sân hận sẽ được 8 điều phước lành như sau:

  1. Không phải sầu não.
  2. Không ganh ghét, giận hờn ai.
  3. Không cạnh tranh, tranh giành
  4. Giữ tâm ôn nhu, ngay thẳng.
  5. Tấm lòng từ bi như vị Phật
  6. Làm những việc lành, bác ái cho chúng sanh.
  7. Là người trang nghiêm, nghiêm túc được mọi người quý trọng.
  8. Là người có đức tính nhẫn nhịn, được sinh ra trên cõi Trời.

Không si mê

Không si mê

 

Bị đọa vào ba đường ác

Không nên si mê, u mê điều gì đó quá đáng, phải có những phán đoán rõ ràng. Điều gì trước khi thực hiện phải nhận định đã hợp lý, đúng đắn rồi mới làm. Khi kết luận phải nhìn khách quan, không nên chủ quan, không cố chấp theo sự hiểu biết cá nhân. Đặc biệt lưu ý không tin lời lẽ không xác thực, không tin lý thuyết suông, không mê tín dị đoan.

Người sống không si mê thường là người thông minh, uyên bác, tin vào nhân quả, tin vòng sinh tử luân hồi tồn tại. Bởi vì hiểu biết và kính sợ, nên sẽ làm những việc bác ái để tăng công đức. Từ đó đi vào con đường giải thoát mà Phật đang đợi.

Theo kinh Thập Thiện Nghiệp, người không si mê sẽ được mười điều phước lành như sau:

  1. Gặp được sự lành và những người bạn tốt.
  2. Có niềm tin vào luật nhân quả, kính sợ chứ không làm điều ác.
  3. Tin vào Đức Phật, không tin vào ma quỷ và tà đạo.
  4. Sống ngay thẳng, có chứng kiến riêng.
  5. Đời sau được sinh ra trên cõi Trời, không bị đọa ba đường ác.
  6. Được ban phúc đức và trí tuệ.
  7. Tránh được mọi sự ác, chuyên tâm tu hành.
  8. Được loại bỏ khỏi những nghiệp dữ.
  9. Sống an bình, thanh thản bên Phật.
  10. Tránh được những nạn dữ.

Ý nghĩa của thập thiện nghiệp

Mười điều lành này được cho là cốt lõi để dạy cho các Phật tử sống theo đường lối ngay thẳng. Nhờ cách sống này mà tránh được những nghiệp dữ, gặp được những sự lành. Dần dần tăng công đức, sống đời tu hành để được tu thành chánh quả.

Làm việc ác ắt hẳn sẽ gặp điều dữ, còn sống thiện lành sẽ gặp những điều tốt đẹp. Sống sợ luật nhân quả, suy nghĩ kĩ trước khi hành động được xem là chân lý của Phật giáo. Nếu không sống như vậy sẽ bị tạo nghiệp, khi sinh ra vào kiếp sau sẽ bị đọa ba đường ác. Bản thân ta nên sống ngay thẳng để tạo những nghiệp lành. Tích đức để sớm sinh ra nơi cõi Trời bên Đức Phật.

Nếu như ta tu được theo mười điều này dạy sẽ mở rộng được tấm lòng từ bi, đương muôn dân kính trọng, là cầu nối cho Đức Phật với chúng sanh. Gieo càng nhiều hạt tốt thì sẽ nảy mầm được những sự lành, rồi thu hoạch được những quả đẹp, hưởng phúc nơi cõi Trời.

Tóm gọn lại đây là nền tảng vững chắc cho ta trên con đường tu hành, lẫn lối sống lành mạnh. Sống theo mười điều nghiệp lành sẽ giúp ta vui vẻ, thanh thản, an bình, không phải đau khổ, được sống hạnh phúc. Đó là điều đơn giản ai cũng mong muốn và sớm đạt được cảnh giới Niết Bàn.

Nếu bạn cần tư vấn thiết kế nhà thờ họ hoặc những công trình thờ cúng tại gia có thể liên hệ với Acc Home theo số điện thoại 0977. 703. 776 hoặc hòm thư điện tử thietkenhathohodep@gmail.com các kiến trúc sư của chúng tôi sẽ tư vấn giúp bạn có những không gian chuẩn tâm linh nhất.

sau khi phá thai nên làm gì ?

Sau khi phá thai nên làm gì tâm linh

Chuyện sinh con để cái là vấn đề mà mọi cặp vợ chồng đều quan tâm, đặc biệt là người phụ nữ – người mẹ của những thai nhi. Có rất nhiều nguyên nhân từ chủ quan đến khách quan dẫn đến quyết định phá thai của người mẹ. Có người nghĩ rằng, thai nhi trong bụng chưa thành hình nên phá thai không phải là tội nhưng dù gì thì thai nhi trong bụng cũng sẽ trở thành một sinh mạng, phá thai là đang phạm vào tội sát sinh theo đạo Phật.

Nếu như do bất đắc dĩ hay bắt buộc phải phá bỏ thai nhi thì sẽ đỡ được phần nào tội lỗi, nhưng các mẹ vẫn nên tìm cách để đứa con được ra đi yên bình cũng như giảm được phần nào gánh nặng tâm lý của mình. Vì nỗi đau mất con luôn là nỗi đau lớn nhất với người mẹ.

Nguyên nhân dẫn đến việc phá thai

Nguyên nhân dẫn đến việc phá thai

 

Nạo phá thai là một trong những vấn đề đáng báo động trong những năm gần đây

Cuộc sống ngày càng hiện đại nhưng kéo theo đó là rất nhiều những khía cạnh không tốt của xã hội sinh ra. Đi cùng với đó là những tư tưởng phong kiến hay mê tín lại vẫn còn dẫn đến tình trạng phá thai ngày càng nhiều. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc phá thai, nhưng chủ yếu có ba nguyên nhân dưới đây.

Lối sống “phóng khoáng” của giới trẻ

Nguyên nhân đầu tiên cũng là điều mà xã hội lên án nhiều nhất phải kể đến đó là do lối sống phóng khoáng của nhiều bạn trẻ hiện nay. Mặc dù giáo dục giới tính những năm gần đây luôn được quan tâm và đẩy mạnh như môi trường giáo dục từ nhà trường và sự chia sẻ của cha mẹ đối với con cái về vấn đề này là vẫn chưa đủ. Các em không thể hiểu hết tiền căn hậu quả của việc quan hệ sớm. Cho rằng yêu đương tuổi học trò là xu thế và ngày càng bình thường. Cộng thêm việc internet ngày càng phát triển, những thước phim, tranh ảnh, sách báo đồi trụy không phù hợp lứa tuổi tràn lan trên mạng. Đặc biệt là khi các em đều đang ở tuổi tò mò, không có sự giáo dục từ cha mẹ và bản thân các em không tìm hiểu kỹ các kiến thức liên quan nên rất dễ xảy ra vấn đề yêu rồi quan hệ sớm dẫn đến tình trạng phá thai rất nhiều. Con gái thì không biết tự bảo vệ bản thân, con trai lại không được giáo dục một các kỹ lưỡng dẫn đến nhưng tư duy sai lầm cùng lối sống lệch lạc, buông thả bản thân, cho nên việc mang thai ngoài ý muốn khiến không ít thanh niên đã hủy hoại chính tuổi trẻ và tương lai của mình.

Và đa phần những trường hợp này đều phải chịu rất nhiều áp lực từ xã hội, đặc biệt là gia đình. Tâm lý ở độ tuổi này còn chưa ổn định và đủ chín chắn nên nỗi sợ càng khiến các bạn trẻ muốn phá bỏ cái thai một cách dấu diếm. Lựa chọn phòng khám hay nơi phá thai không uy tín làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của mình.

Tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn

Mặc dù điều kiện sống đã tốt hơn, tư tưởng của người Việt Nam cũng hiện đại hơn nhưng suy nghĩ “trọng nam khinh nữ” vẫn còn xuất hiện ở rất nhiều gia đình. Hơn nữa, nhà nước ban hành kế hoạch hóa gia đình, mỗi gia đình chỉ sinh từ 1 – 2 con nên người ta càng muốn có con trai để “nối dõi tông đường”. Các bác sĩ cũng được quy định rằng không nên để gia đình biết giới tính của thai nhi, nhưng có thể thấy đa số các bác sĩ hiện nay đều “lách luật”, đặc biệt là những phòng khám tư, hay phòng siêu âm tư nhân. Những gia đình còn mang tư tưởng này khi biết thai nhi là con gái cũng rất tàn nhẫn mà quyết định phá thai chỉ vì muốn có một “quý tử”. Với những trường hợp này, nghiệp báo của người mẹ và gia đình phải chịu là rất nặng bởi vì họ đang có chủ đích phá thai, điều này theo giáo lý nhà Phật không khác gì giết chết một mạng người vô tội.

Bên cạnh tư tưởng cổ hủ này, còn vô vàn lý do khác liên quan đến mê tín dị đoan mà người mẹ nhẫn tâm bỏ đứa con của mình. Ví như tuổi con cái khắc bố, khắc mẹ thấy thế liền không thương xót mà bỏ đứa con. Mặc dù Phật giáo cũng có tính toán tuổi hay ngũ hành của con người nhưng nhà Phật không bao giờ chấp nhận chuyện này. Bởi vì như đã nói, thai nhi cũng là một sinh mệnh, chỉ vì một lý do chủ quan mà vứt bỏ chính đứa con của mình chính là họ gây nhân xấu ác. 

Do bất đắc dĩ

Bên cạnh đó còn có các nguyên nhân do hoàn cảnh bất đắc dĩ như người mẹ có sức khỏe không tốt nếu có thai sẽ ảnh hưởng cả đứa bé và mẹ, thai nhi bị khuyết tật, chết lưu, vô tình sảy thai hay chửa ngoài dạ non buộc người mẹ phải bỏ đi đứa con của mình. Với những trường hợp như thế này, nhà Phật hay cả xã hội cũng đều rất thương xót và thông cảm. 

Chỉ có thể nói rằng, đứa bé này không có duyên làm con của gia đình. Mong người mẹ có thể vượt qua được nỗi đau mất con.

Quả báo khi phá thai theo tâm linh

Quả báo khi phá thai theo tâm linh

 

Phá thai sẽ tạo nghiệp cho cả người mẹ lẫn người tham gia phá thai

Có lẽ chúng ta đều biết một điều rằng phá thai chính là sát sinh thậm chí còn có thể gọi là giết người. Nhà Phật đã dạy rằng, tự tay mình giết một mạng người là tạo nghiệp rất nặng, xúi giục người ta giết cũng là nặng. Dù là thuận theo ý người khác mà làm thì cũng không thể tránh khỏi quả báo sau này. Vậy quả báo nào có thể xảy ra với người phá thai và cả người tham gia phá thai sẽ phải chịu nhân quả nào?

Vong thai nhi thường bám theo người mẹ

Con cái luôn liền tâm với người mẹ, dù chỉ là một sinh linh ý thức chưa hoàn chỉnh như thai nhi nhưng các bé đều rất yêu và ỷ lại vào người mẹ – người đã nuôi dưỡng mình trong bụng từ khi chỉ là phôi thai. Vì thế, tâm trạng của mẹ như thế nào các bé có thể cảm nhận được rõ ràng. Nếu như người mẹ ngày đêm đều nhớ mong con, càng vấn vương tiếc nuối thì vong của bé càng ỷ lại vòng quanh mẹ và khó siêu thoát. 

Người mẹ luôn luôn là điều rất quan trọng đối với mọi đứa con. Cho nên trong thế giới tâm linh, linh hồn của các bé rất dễ bám theo mẹ của chúng. Tuy nhiên trẻ con thì vẫn là trẻ con, cần được giáo dục và dạy bảo những điều xấu tốt.

Nhưng những hài nhi chưa kịp thành hình đã bị phá bỏ này đâu có được chỉ dân, có đứa trẻ ngoan thì cũng sẽ có đứa trẻ hư. Nếu người mẹ thực sự vô tình tàn nhẫn không xem trọng đứa con của chính mình thì sẽ càng khiến những linh hồn vốn đã tổn thương lại càng thêm oán hận tột cùng. Từ đó mà sinh ra ác niệm, luôn quấy phá cuộc sống người mẹ và gia đình.

Thậm chí, những vong linh ấy sẽ càng thêm tức giận nếu như sau đó người mẹ lại muốn có em bé mới, chúng sẽ trút những đợt oán hận ấy lên người em trai, em gái của mình.

Vốn dĩ chúng sẽ được sống hết dương thọ của mình được ghi trong sổ tại âm tào. Nhưng lại không may mắn được sinh ra và hưởng thụ cuộc sống, dẫn đến việc phải lưu lạc nhân gian đến khi dương thọ đó hết đi mới có thể siêu thoát.

Có rất nguyên nhân dẫn đến phá thai như đã đề cập ở trên, dù là khách quan hay chủ quan thì người mẹ vẫn nên là người giúp đỡ và siêu độ vong nhi để chúng sớm được siêu thoát và đầu thai kiếp mới. Nhất là với những thai nhi bị nạo phá có chủ đích không tốt. 

Ảnh hưởng tới sức khỏe người phá thai

Chúng ta đều biết rằng nạo phá thai ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe của phụ nữ. Họ sẽ phải đối mặt với rất nhiều vấn đề về đường sinh con của mình. Nhẹ thì gây tổn hại đến tử cung đôi khi dễ mắc bệnh viêm nhiễm nếu không chăm sóc đúng cách, nặng hơn có thể khiến người phụ nữ khó thụ thai. Hậu quả nghiêm trọng hơn nữa khi nạo phá thai không đúng cách, tại những nơi không đạt tiêu chuẩn là có thể dẫn đến xuất huyết và vô sinh. 

Bên cạnh việc phá thai ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe sinh sản, nó còn gây ra quả báo khác đó là ảnh hưởng tới sức khỏe và thọ mạng bị giảm của người phụ nữ. Đức Phật đã từng dạy trong kinh Nghiệp Báo Sai Biệt rằng sát hại chúng sinh chính là một trong mười nguyên nhân dẫn đến tổn thọ. Bởi vì cướp đoạt đi quyền được sống của người khác chính là việc sai trái khó thể dung tha, hơn nữa thai nhi rất dễ vì oán hận mà quay trở lại báo thù người mẹ đã nhẫn tâm bỏ mình.

Người tham gia phá thai cũng bị ảnh hưởng

Người tham gia việc nạo phá thai là các bác sĩ cũng bị ảnh hưởng về cả tâm lý và báo ứng nặng nhẹ tùy vào hành động và lời nói của mình. Các bác sĩ thuộc khoa sản và chuyên phải thực hiện các ca nạo phá thai, chắc chắn rằng có rất nhiều người sẽ cảm thấy day dứt lương tâm và tâm lý bị ảnh hưởng ít nhiều.

Song, vì đây là công việc, là nghề nghiệp thì bác sĩ buộc phải làm vì đó là trách nhiệm. Vì thế mà trước khi thực hiện các ca nạo phá thai, các bác sĩ nên động viên và khuyên bảo gia đình không nên phá thai trong điều kiện có thể. Nhưng hơn hết, quyết định vẫn thuộc về phía gia đình. 

Vậy nên nhà Phật cũng rất thông cảm những vấn đề này, vì thế mà việc sát sinh chủ yếu báo nghiệp lên người có chủ đích là chính. Tuy nhiên, là một người cũng tham gia vào việc sát sinh này, có nghĩa là bác sĩ cũng có nhân duyên, cộng nghiệp ít nhiều, chứ không thể không có nhân quả.

Cho nên trước khi thực hiện các ca nạo phá thai, các bác sĩ cũng nên có một câu khấn đối với thai nhi đó. Cầu cho đứa bé sớm được luân hồi tái sinh vào kiếp khác với gia đình có duyên hơn. 

Ngoài bác sĩ là người trực tiếp thực hiện hay giúp các mẹ phá thai thì những người khuyên hay xúi giục người khác phá thai cũng là “đồng phạm” sát sinh. Đương nhiên, theo lời Phật họ cũng phải chịu quả báo nặng nề. Tùy vào hành động và lời nói của mình, những người tán thán hay ép buộc người khác phá thai cũng sẽ phải chịu quả báo nhãn tiền.

Các bác sĩ tại khoa sản chính là những người có hiểu biết sâu rộng về sức khỏe, tính mạng con người, họ nên là những người góp lên tiếng nói bênh vực những sinh linh bé bỏng, trước bờ vực sự sống và chết. Và nếu may mắn, người sản phụ chịu lắng nghe ý kiến của bác sĩ thì đây sẽ là một điều tuyệt vời cứu vớt những sinh linh bé bỏng trước cái chết.

Sau khi phá thai nên làm gì tâm linh?

Sau khi phá thai nên làm gì tâm linh?

 

Người mẹ nên làm những việc sau để giảm bớt tội nghiệt sau khi phá thai

Những bà mẹ khi phải phá bỏ đi chính đứa con trong bụng mình đều ít nhiều cảm thấy day dứt và tội lỗi. Có khi nỗi ám ảnh đó sẽ theo cả đời người. Vì thế, nếu không may người mẹ buộc phải bỏ đi đứa con chưa kịp thành hình ấy, hãy làm theo ba cách sau để có thể phần nào bình ổn tâm lý, giảm bớt tội nghiệt và siêu thoát vong linh đứa bé.

Thành tâm sám hối tội lỗi 

Đức Phật từ bi đã từng dạy rằng trên đời này có hai loại người đáng được quý trọng nhất: một là người không bao giờ mắc phải sai phạm gì, thứ hai là người làm sai nhưng biết thành tâm nhận sai, hối lỗi và sửa chữa. Vậy nên người cha người mẹ khi đã quyết định phá bỏ đi đứa con của mình, việc trước hết đó là phải sám hối tội lỗi của mình thật thành tâm với Tam Bảo và vong linh thai nhi.

Bởi vì chỉ có như thế thì vong linh thai nhi đang hận thù mình sẽ giảm được phần nào cảm giác uất ức và tủi hờn. Mình có lỗi thì mình phải có lời xin lỗi, sám hối với tất cả tâm chân thành của người cha, người mẹ. Điều đặc biệt quan trọng đó là cho thấy được trong lời sám hối đó phải có yêu thương thật lòng của bậc cha mẹ. 

Cầu siêu cho thai nhi đã mất

Cầu siêu cho các thai nhi đã mất ở đây không phải là để cho các đứa bé ấy có thể đi vào cõi Phật. Mà điều quan trọng đó là để cho các linh hồn bé bỏng đang vương vấn người cha mẹ ấy được thoát khỏi kiếp cô hồn dã quỷ, được đi vào luân hồi tìm đến kiếp tốt hơn.

Có thể, do kiếp trước tạo nghiệp nên những đứa bé ấy mới không có duyên làm người. Việc cầu cho các cháu siêu thoát là giúp các cháu có thể đầu thai tốt hơn. Ngược lại, nếu không cầu siêu cho thai nhi, những vong linh ấy rất có thể biến thành tiểu quỷ đi quậy phá ngược lại gia đình và xã hội bởi vì nỗi oán hận của chung. Vì thế, cầu siêu là một phương pháp đúng, thanh tịnh. 

Việc cầu siêu cho các linh hồn ấy không phải chỉ cần làm một lần là được. Còn phải tùy thuộc vào mức độ oán hận của các bé. Vì thế thái độ và hành động, đặc biệt là tình thương của mẹ rất quan trọng đến điều đó. Vì thế khi có cơ hội, các bậc cha mẹ đã phá thai vẫn nên đến chùa hay đền để thực hiện cầu siêu cho những đứa con không có duyên của mình.

Hồi hướng công đức cho thai nhi

Sau khi các cha mẹ đã cầu siêu cho đứa bé ấy việc cần làm sau đó là hồi hướng công đức cho thai nhi. Vì dù ngay cả khi đã siêu thoát nỗi uất hận tuy không còn nhưng những đau đớn và tủi thân của bé có lẽ vẫn sẽ theo tiềm thức. 

Vì vậy bên cạnh việc cầu siêu cho bé, các cha mẹ cũng nên hồi hướng công đức để bé đi đầu thai thanh thản hơn đồng thời để cho bé có kiếp sau hạnh phúc hơn. Gia đình có thể hồi hướng bằng cách đọc bài khấn sau: “Con xin hồi hướng tất cả công đức mà con đã tích tập được trong ngày hôm nay, trong cuộc đời này, trong các đời quá khứ và tương lai cho sự hạnh phúc và giác ngộ của tất cả chúng sinh, trong đó có thai nhi mà con đã phá bỏ (hoặc trong đó có bé Nguyễn Văn A – nếu như bạn đã đặt tên cho bé).

Cầu cho bé được siêu thoát, có tái sinh tốt đẹp, có duyên lành gặp được chánh pháp để tu tập giác ngộ, giải thoát”. Và từ đó, hãy luôn cố gắng làm việc thiện để bù lại công đức cho mai sau, cho con cái và cho chính bạn. 

Bài văn khấn cầu siêu cho vong nhi tại nhà đơn giản

Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô A Di Đà Phật

Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con lạy Đức Phật Di Đà.
Con lạy Bồ Tát Quan Âm.
Con lạy Địa tạng vương Bồ tát

Xin chứng giám cho Đệ tử tên… pháp danh… Trước đây do vô minh, sai lầm, con đã từng lỡ dại phá bỏ thai nhi, từ chối sự hiện diện của các con mình mà không hề biết sự đau khổ của các con. Bây giờ được học Phật, con đã hiểu rõ và tin vào Nhân Quả, con vô cùng ăn năn hối hận trước những việc mình đã làm. Con đã sai rồi! Nay con xin chân thành sám hối tất cả những tội lỗi mà con đã tạo tác.

Con của mẹ! Mẹ đã nhận ra những lỗi lầm từng gieo cho con. Mẹ không nhận thức hết rằng những gì mình đã làm gây cho cả cha mẹ và con quá nhiều đau khổ, làm cho hồn nhi phải cô đơn, oán trách, vất vưỡng, đói khát, lạnh lẽo. Bây giờ biết được Phật pháp, mẹ mới hiểu ra được sự tồn tại của con đến từ lúc vừa hình thành tổ hợp thai, nên vô cùng ăn năn hối hận, xót xa trong lòng, lương tâm cắn rứt.

Xin hãy tha thứ cho mẹ, xin con đừng oán hận mẹ nữa. Đúng là cho dù bất kỳ lý do gì cũng không thể chấp nhận được ác nghiệp này. Nhân Quả là do mẹ tự làm tự chịu. Mẹ chỉ biết sám hối cùng các vong nhi, hàng ngày cố gắng tích đức tu thiện, đem tất cả công đức những việc thiện lành để hồi hướng cho các con. Nguyện cho trẻ có thể nghe thấy những lời mẹ sám hối, cùng mẹ niệm Phật mà phát nguyện cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Về đó tương lai mẹ con cùng hội ngộ, vĩnh viễn lìa khổ được vui.

Nguyện Đức Từ Phụ Tạo Hóa Di Lặc Phật, Đức A Di Đà Phật và các bậc bề trên xót thương tiếp dẫn tất cả các vong linh thai nhi trên toàn thế giới này mà bị cha mẹ vô minh, ngu si phá bỏ đều được vãng sanh về thế giới an lành nơi Cực Lạc. Nguyện cho tất cả những ai đã, đang và sẽ phá thai hãy dừng lại các sai lầm. “Nguyện đem công đức này. Trang nghiêm Phật Tịnh độ. Trên đền bốn ơn nặng. Dưới cứu khổ ba đường. Nếu có ai thấy nghe. Đều phát tâm Bồ-đề. Hết một báo thân này. Đồng sanh nước Cực lạc. Nam Mô tạo Hóa Di Lặc Phật ( 3 lần).

Bạn cần tư vấn thiết kế nhà thờ họ hoặc những cồng trình kiến trúc tâm linh có thể liên hệ với Acc Home theo số điện thoại 0977. 703. 776 hoặc hòm thư điện tử thietkenhathohodep@gmail.com các kiến trúc sư của chúng tôi sẽ giúp bạn có những không gian thờ cúng chuẩn phong thủy nhất.

thuề nhà có lnene lập bàn thờ

Nhà thuê có nên lập bàn thờ hay không?

Hiện nay, tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh…số lượng người dân tạm trú để sinh sống, học tập và làm việc rất đông. Do vậy, việc thuê nhà trọ đã trở thành một điều khá phổ biến. Tuy nhiên, nên nhiều người vẫn thắc mắc rằng: ”nhà thuê có nên lập bàn thờ không”? Để giải đáp vấn đề này, mời các bạn theo dõi bài viết dưới đây của nhà thờ họ.

Nhà thuê có nên lập bàn thờ mới không 

Nhà thuê có nên lập bàn thờ mới không 

 

Các cụ xưa thường có câu: Có thờ có thiêng, có kiêng có lành. Vậy nên, dù ta ở bất cứ đâu, nhà riêng hay nhà thuê trọ thì cũng nên tiến hành thờ cúng ngay từ lần đầu tiên chuyển vào, để đảm bảo việc sinh sống, làm việc ở đó được suôn sẻ.

Tuy nhiên, vì là nhà thuê nên quyền sở hữu đất thuộc về chủ nhà. Khách thuê có nên lập bàn thờ mới để thờ cúng không mới là vấn đề mà rất nhiều người thắc mắc. Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cần biết, bàn thờ nhà thuê thờ ai? Thờ Ông địa – Thần tài – Thờ phật – thờ Chúa hay gia tiên, bà cô ông mãnh của dòng họ mình.

Thông thường trên bàn thờ gia sẽ thờ thổ công (vị thần linh bảo hộ gia đình), kế bên là thờ tổ tiên và tổ ông mãnh. Đối với những người đi thuê nhà thì việc thờ cúng thần linh tại đây sẽ do chủ nhà đảm trách. Nếu người thuê trọ có tâm thì mua thêm đèn nhang đồ lễ bày lên bàn thờ thần linh của chủ nhà. 

Còn về phần thờ gia tiên thì có thể thờ hoặc không vì đây không phải nhà của bạn, nếu không xin phép cẩn thận thì tổ tiên bạn có thể không vào nhà được, vì sẽ bị thần bảo hộ của gia đình người chủ cấm cản. 

Những trường hợp không nên lập bàn thờ

Những trường hợp không nên lập bàn thờ

 

Những trường hợp ở nhà trọ tập thể, mỗi người chỉ sở hữu một không gian riêng nhỏ, còn chủ nhà cai quản tất cả và lập bàn thờ thổ công chung cho cả khu rồi thì bạn không nên lập bàn thờ riêng. Bởi:

Nhà Trọ hay quán trọ được hiểu nôm na là nhà được chia thành nhiều phòng nhỏ, dùng để cung cấp chỗ lưu trú tạm thời cho khách nghỉ ngơi. Trong không gian chật hẹp như vậy thì không thuận tiện cho việc thờ cúng.

Đối với học sinh, sinh viên đi học xa nhà phải thuê phòng trọ, kí túc thì cũng không cần thiết phải thờ cúng. Bởi các bạn chưa lập gia đình riêng, việc thờ cúng đã có bố mẹ ở nhà đảm nhiệm chu toàn.

Những trường hợp nên lập bàn thờ

Trong trường hợp bạn và gia đình thuê một ngôi nhà riêng biệt hoặc căn hộ chung cư thì việc lập bàn thờ thần linh là cần thiết, vì khi đó chủ nhà đã giao hoàn toàn quyền sử dụng căn nhà cho bạn. Việc thờ cúng thần linh sẽ giúp cuộc sống của bạn dễ dàng hơn, công việc thuận lợi, gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc, bình an.

Ở nhà thuê nên thờ ai?

Tùy vào mục đích thuê nhà sử dụng vào mục đích ở hay kinh doanh để bạn có thể chọn bàn thờ cho phù hợp. Bạn có thể tham khảo một số gợi ý thờ cúng dưới đây.

Thờ Thần Tài

Thờ Thần Tài

 

Một trong những vị thần được thờ nhiều nhất tại nhà thuê, nhà trọ hiện nay là Thần tài. Thần tài chính là vị thần cai quản tài lộc, tiền bạc. Nên khi thờ cúng thành tâm Thần tài bạn sẽ gặp được nhiều may mắn và thành công trong công việc làm ăn, buôn bán. Dù bạn đang thuê nhà để kinh doanh thì vẫn nên lập bàn thờ Thần Tài.

Thờ thổ công, thổ địa

Thờ thổ công, thổ địa

 

Bàn thờ thổ công, thổ địa là bàn thờ được lập và bài trí đơn giản bạn có thể chọn thờ cúng tại nhà trọ của mình. Với những người thuê nhà nguyên căn, việc thờ cúng ông Địa sẽ giúp mang lại cho bạn nhiều điều may mắn, tốt lành.

Thờ Phật 

Thờ Phật 

 

Với những phật tử theo đạo Phật, việc lập bàn thờ Phật tại nhà trọ cũng là một cách để họ thể hiện sự kính trọng, ngưỡng vọng. Hàng ngày thắp hương, tụng kinh giúp con người cảm thấy mạnh khỏe, tâm hồn thảnh thơi, phiền não tiêu tan. 

Thờ Chúa

Thờ Chúa

 

Nếu bạn là con Chiên của Chúa thì chắc hẳn không còn xa lạ với bàn thờ Công giáo. Bởi bạn luôn tin rằng dù trong hoàn cảnh nào thì Chúa vẫn sẽ dõi theo và bảo vệ bạn. Do đó, lập bàn thờ chúa là điều nên làm.

Cách lập bàn thờ tại phòng trọ, nhà trọ

Như chúng tôi đã chia sẻ ở trên, khi dọn về nhà trọ ở, bạn nên làm lễ nhập trạch để xin phép, thông báo với thần linh nơi đây về sự xuất hiện của bạn.

Nghi lễ nhập trạch tại nhà thuê đơn giản hơn so với nghi lễ nhận nhà mới của bạn. Lễ vật chuẩn bị không cần cầy kỳ chỉ cần: Hoa quả tươi, trầu cau, 3 chén gạo muối nước, tiền vàng, bếp gas và ấm nước là đã có thể tiến hành. 

Khi lễ vật đã chuẩn bị xong, đến ngày giờ đẹp làm lễ, bạn ăn mặc chỉnh tề, để lễ vật lên chiếc bàn nhỏ và đọc văn khấn xin nhập trạch. Đợi hết tuần hương thì hóa vàng, hạ lễ để thụ lộc.

Vị trí đặt bàn thờ cho nhà thuê

Cũng giống như bàn thờ tại gia, khi lập bàn thờ tại nhà thuê cũng cần dựa theo tuổi và mệnh của người thuê để chọn hướng phù hợp. Kiểu bàn thờ phù hợp với nhà trọ là bàn thờ treo tường, bàn thờ thần tài, ông địa. Vị trí thích hợp là tại phòng khách, nơi sạch sẽ, cao ráo, trang nghiêm. Không được đặt bàn thờ ở các vị trí xấu như đối diện cửa ra vào, nhà vệ sinh, cửa phòng bếp hay phòng ngủ.

Không được đặt bàn thờ dưới gầm cầu thang, xà ngang. Dù là nhà thuê nhưng khi đã lập bàn thờ cần làm hết sức cẩn thận, không được qua loa xuề xòa lấy lệ được. Việc thờ cúng phải thành tâm, chu đáo mới được thần linh chứng giám nâng đỡ, phù hộ.

Trên đây là những thông tin liên quan đến vấn đề nhà thuê có nên lập bàn thờ không. Cảm ơn quý đọc giả đã theo dõi bài viết của chúng tôi.

Bạn cần tư vấn thiết kế nhà thờ họ hoặc những công trình kiến trúc tâm linh có thể liên hệ với Acc Home theo số điện thoại 0977. 703. 776 hoặc hòm thư điện tử acchomearc@gmai.com các kiến trúc sư của chúng tôi sẽ giúp bạn có những không gian thờ cúng hoàn hảo nhất.

chọn ngày nhập trạch

Nguyên tắc chọn ngày nhập trạch

Nhập trạch là một trong những nghi lễ tâm linh quan trọng không thể thiếu mỗi khi gia chủ chuyển về nhà mới. Bên cạnh việc sửa soạn lễ vật, chuẩn bị văn khấn nhập trạch thì chọn ngày nhập trạch là điều mà gia chủ phải hết sức cẩn thận. Vậy làm thế nào để xem ngày ngày tốt chuyển nhà, nguyên tắc chọn ngày nhập trạch như thế nào để nghênh đón tài lộc, mời các bạn cùng nhà thờ h tìm hiểu nội dung bài viết dưới đây.

Vì sao cần xem ngày nhập trạch

Thời gian là một yếu tố phong thủy được người Việt hết sức coi trọng. Với mong muốn mọi việc đều được bình an, may mắn, hanh thông, thuận lợi thông qua. Nên bất kể khi làm việc gì, dù là cưới hỏi, xin việc, xây nhà, động thổ, khai trương, nhập trạch…chúng ta cũng đều phải xem giờ tốt để thực hiện. 

Bởi họ tin rằng ngày tốt là ngày thiên thời địa lợi nhân hòa, tức đất và khí trời hòa làm một, thần linh, thổ công thổ địa đồng ý cho họ dọn đến nhà mới. Đồng thời sẽ ban phước lành, may mắn cho gia chủ trong cuộc sống về sau. Ngược lại nếu chọn ngày không tốt, phạm vào ngày đại kỵ, không hợp tuổi sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và công danh, sự nghiệp của gia chủ và các thành viên trong gia đình.

Không chỉ vậy, xét về phương diện tinh thần, việc xem ngày tốt còn giúp gia chủ có một tâm trạng thoải mái hơn. Không phải lo lắng mình có làm gì sai phạm đến thần linh hay không. Từ đó làm việc gì cũng cảm thấy an tâm, thuận lợi, gia đaoh êm ấm, mọi người phấn khởi, vui vẻ.

Nguyên tắc chọn ngày nhập trạch đẹp 

Nguyên tắc chọn ngày nhập trạch đẹp 

 

Như chúng tôi đã chia sẻ ở trên, chuyển nhà là cột mốc đánh dấu một sự khởi đầu mới tại địa điểm mới của chủ nhà. Nó ảnh hưởng đến tài lộc, sức khỏe, công việc, học hành của tất cả các thành viên trong gia đình. Chính vì vậy, mà người ta rất coi trọng việc chọn ngày đẹp để làm lễ nhập trạch về nhà mới. Nguyên tắc chọn ngày nhập trạch đẹp được tính như sau: 

Chọn theo ngày hoàng đạo 

Chọn theo ngày hoàng đạo 

 

Ngày hoàng đạo chính là một trong những ngày lành đại cát, đại lợi, được thần thiện cai quản, mọi việc làm đều hanh thông, may mắn, nên gia chủ có thể yên tâm nhập trạch. Nếu ngày hoàng đạo còn trùng với ngày hợp mệnh, hợp tuổi thì lại càng tốt hơn. Trong đó những ngày và giờ sau được xem là tốt nhất để nhập trạch.

  • Tốc Hỷ: là ngày tượng trưng cho sự may mắn, niềm vui đến nhanh chóng, đây là ngày được cho là thời điểm vàng để làm những việc lớn.
  • Ngày Đại An: Là ngày gia chủ cầu được ước thấy, sức khỏe dồi dào, công việc làm ăn thuận lợi, vạn sự đều tốt lành.
  • Ngày Tiểu Cát: Nhập trạch vào ngày này sẽ giúp gia chủ thu hút vượng khí, thu hút tài lộc cho mọi người trong nhà.

Dựa theo thuyết ngũ hành

Dựa theo thuyết ngũ hành

 

Thuyết ngũ hành diễn giải quy luật vận hành tương sinh tương khắc giữa Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ. Theo đó, mỗi ngày sẽ ứng với từng hành cụ thể trên. Theo thuyết này thì Kim tượng trưng cho tài lộc tiền bạc, còn Thủy tượng trưng cho của cải, may mắn, Hỏa tượng trừng cho khó khăn, trắc trở trong cuộc sống. Chính vì vậy, khi chuyển nhà người ta sẽ chọn ngày có hành Kim và Thủy. Hoặc xem ngày giờ tương sinh với gia chủ như sau:

  • Kim khắc hỏa, tương sinh với Thổ
  • Thủy khắc Thổ, tương sinh với Kim
  • Hỏa khắc Thủy và Kim và tương sinh với Mộc, Thổ.
  • Mộc khắc Thổ, Kim; tương sinh với Thủy, Hỏa.
  • Thổ tương sinh với Kim, Hỏa, khắc Mộc, Thủy.

Chọn ngày nhập trạch dựa theo hướng nhà

Nguyên tắc đầu tiên chúng ta có thể kể đến khi chọn ngày nhập trạch đó là chọn theo hướng nhà. 

  • Nhà hướng Đông thuộc hành Mộc kỵ ngày Tỵ, Dậu, Sửu 
  • Nhà hướng Tây thuộc hành Kim kỵ ngày Kim quá vượng đó Mùi, Mão, Hợi.
  • Nhà hướng Nam thuộc hành Mộc kỵ các ngày hành Kim quá vượng tương tự như hướng Đông 
  • Nhà hướng Bắc và Tây Bắc thuộc hành Kim, kỵ ngày Mộc vượng như Hợi, Mão, Mùi.
  • Nhà hướng Bắc thuộc hành Thủy, kỵ ngày vượng Hỏa là Dần, Ngọ, Tuất.
  • Nhà hướng Đông và Tây Nam thuộc hành Thổ, kỵ ngày Mộc vượng là Hợi, Mão, Mùi.

Chọn ngày nhập trạch theo chòm sao Bắc Đẩu

Chọn ngày nhập trạch theo chòm sao Bắc Đẩu

 

Ngoài những cách chọn ngày đẹp nhập trạch trên, bạn cũng có thể căn cứ vào ngày cát hung dựa trên chòm sao Bắc Đẩu để biết những ngày cát hung, đại kỵ cần tránh. Nguyên tắc này như sau:

  • Gia chủ sinh năm Thân, Tí, Thìn kỵ ngày và giờ đại kỵ là Mùi, đại hung là Giáp, Canh, Tân, Ất.
  • Chủ nhà sinh Dần, Ngọ, Tuất ngày đại kỵ là Sửu, ngày giờ có thiên can đại hung Giáp, Ất, Canh, Tân.
  • Chủ nhà sinh năm Hợi, Mão, Mùi, ngày, giờ đại kỵ là Tuất và ngày giờ có thiên can đại hung là Bính, Quý, Nhâm, Dần.
  • Chủ nhà sinh năm Sửu, Dậu, Tí ngày giờ đại kỵ là Thìn và ngày Bính có thiên can đại Hung.

Nhiều bạn đọc vẫn thắc mắc khi nhập trạch có cần xem tuổi hay không, và cần tránh những ngày nào thì theo những chia sẻ trên phần nào cũng đã hiểu được. Tuy nhiên, nếu ta áp dụng tất cả các cách xác định ngày nhập trạch như trên thì sẽ rất khó tìm được ngày phù hợp nhất.

Bởi lẽ, cũng có ngày hoàng đạo tốt trong tháng không phù hợp với thiên can địa chi của chủ nhà và ngược lại. Chính vì thế, chúng ta có thể tránh những ngày xấu cố định trong năm và chọn một trong những phương pháp chúng tôi đã đề cập để tìm được ngày giờ đẹp làm lễ nhập trạch. 

Những ngày tránh nhập trạch

Những ngày tránh nhập trạch

 

Những ngày tránh nhập trạch thường rơi vào tháng 3 và tháng 7 âm lịch. Vì hai tháng này có tiết thanh minhvu lan báo hiếu. Đây là những tháng có liên quan đến người chết, âm khí nhiều nên cần tránh nhập trạch để không gặp phải vận khí xấu.  

Ngoài ra, chúng ta cần tránh những ngày xấu như: Dương công kỵ, Tam nương, Thọ tử,… Trong đó, ngày Tam nương gồm ngày mùng 3, 7, 13, 18, 22, 27 âm lịch hàng tháng. Ngày Thọ tử là mồng 5, 14, 23 âm lịch hàng tháng. Ngày Dương công kỵ rơi vào 13/ 1, 11/ 2, 9/3, 7/4, 5/5, 3/6, 8/7, 29/7, 27/8, 25/9, 23/10, 21/11 và 19/12. 

Những điều cần lưu ý khi nhập trạch về nhà mới

Những điều cần lưu ý khi nhập trạch về nhà mới

 

  • Lễ nhập trạch cần tiến hành vào buổi sáng, giữa trưa hay lúc mặt trời mới bắt đầu lặn, tránh làm buổi tối.
  • Nhập trạch có cần bàn thờ không? Khi làm lễ nhập trạch thì bàn thờ và bát hương thần linh, thổ địa, gia tiên, là điều bắt buộc phải có.
  • Bài vị cúng thần linh, tổ tiên phải do chủ nhà tự tay cầm đến.
  • Tránh những người tuổi Dần vào nhà trong ngày nhập trạch.
  • Trong ngày này gia chủ không nên cãi nhau, to tiếng, quát mắng trẻ nhỏ,…
  • Nên mở vòi nước để chảy tự nhiên, đun sôi ấm nước làm ấm không gian nhà, mở hết cửa sổ và cửa chính trong nhà cho thông thoáng, bật quạt để lưu thông khí.
  • Treo chuông gió ở cửa, trồng cây phong thủy để khắc chế âm khí và tà ma.
  • Bật đèn sáng cả 3 đêm đầu khi về nhà mới.
  • Tránh việc ngủ trưa trong ngày đầu tiên chuyển về nhà mới.

Trên đây là những nguyên tắc chọn ngày nhập trạch về nhà mới. Bạn có thể tham khảo thêm cách sắm lễ và văn khấn nhập trạch, văn khấn động thổ, văn khấn khai trương cửa hàng tại đây. Cảm ơn quý đọc giả đã theo dõi bài viết của chúng tôi.

Bạn cần thiết kế nhà thờ họ hoặc những công trình kiến trúc tâm linh có thể liên hệ với Acc Home theo số điện thoại 0977. 703. 776 hoặc hòm thư điện tử thietkenhathohodep@gmail.com các kiến trúc sư của chúng tôi sẽ giúp bạn có những không gian thờ cúng chuẩn tâm linh nhất.

vô ngã là gì?

Vô ngã là gì?

Mỗi người đều có một bản ngã riêng, nhưng vì sao Phật thường hướng chúng ta đến vô ngã? Thực ra, vô ngã theo quan niệm của nhà Phật là một quá trình rất dài tu tâm của con người. Người ta muốn hướng đến một cái tâm không còn chấp nhất một chuyện gì, không cố gắng đến mức cực đoan rồi gây ra khổ ưu và phiền não cho bản thân và mọi người. Để tìm hiểu vô ngã là gì? Xi mời quý độc giả tham khảo bài viết của thietkenhathoho.com dưới đây.

Vô ngã là gì?

Vô ngã là gì?

 

Vô ngã là một trong ba pháp ấn chỉ có trong quan điểm Phật giáo

Cùng với Khổ và Vô Thường, Vô ngã là một trong ba pháp ấn thuộc về quan điểm của nhà Phật. Theo đó, người ta cho rằng, không có một bản ngã nào là vĩnh cửu, không có một cái gì trường tồn, bất biến trên thế giới. Mọi thứ đều phải phụ thuộc và liên kết với nhau để tồn tại. Điều này có nghĩa là mọi sự vật được sinh ra là do duyên, phụ thuộc vào điều kiện nào đó. Chứ chúng không hề có quyền tự quyết định việc sinh ra hay hủy hoại chính mình. Đã có sinh thì phải có diệt, hay đối ngược lại với vô ngã là vô thường. Sự vật bị diệt đi là khổ, cái gì khổ lại biến đổi theo duyên sinh lại thành vô ngã.

Theo Kinh Sáu Xứ

Kinh Sáu Xứ cho rằng tự ngã có nghĩa là vĩnh hằng, nó không được sinh ra cũng không diệt và bất biến. Lục căn của con người gồm 6 thứ là Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý được sinh ra cũng có khả năng biến mất, thay đổi theo sự lớn dần của con người nên nó là vô ngã. Lục Trần gồm sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp cũng có sinh có diệt, nên lục trần vô ngã. Lục thức kết hợp từ lục căn và lục trần cũng có sinh có diệt, nên lục thức cũng là vô ngã. Nói vậy, còn người không có thực thể, duyên cũng thế do đó quả cũng là không. Nhưng do sự gặp gỡ của lục căn dựa vào duyên sinh mà kết hợp với lục trần hay do môi trường điều kiện bên ngoài mà tiếp xúc với lục thức. Vì thế mà chúng luôn thay đổi, chúng được sinh ra và mất đi và trở thành vô ngã.

Quan niệm vô ngã theo lý duyên hợp

“Tứ Đại Giai Không” là tư tưởng của nhà Phật về việc sinh ra và hình thành của vạn vật trong vũ trụ. Nó cũng là quan điểm nói lên bản chất và hiện tượng của mọi vật bao gồm cả con người. Bốn thành phần của Tứ Đại Giai Không là Địa, Thủy, Hỏa và Phong, chúng không bao giờ tách rời nhau mà liên kết chặt chẽ với nhau trong mọi sự vật, tuy nhiên trong một vật vẫn sẽ có một yếu tố chiếm ưu thế hơn cả và là yếu tố thể hiện ra bên ngoài nhiều nhất. Giống như các vật chất luôn luôn chuyển động không ngừng của một vật mà các nhà khoa học hay nhắc đến, thì bốn yếu tố này cũng luôn biến đổi chứ không bao giờ đứng yên.

Vì thế, chúng cũng vô ngã, có thể suy rộng hơn vì chúng là những yếu tố hình thành nên vạn vật nên vạn vật đều vô ngã. Vậy thì theo Phật giáo, thân thể của mỗi chúng ta cũng chỉ là tạm bợ, là nơi lưu giữ của tứ đại giai không, khi chết đi mọi thứ sẽ trở về với từng loại Địa, Thủy, Hỏa và Phong. Khi đó, thức của con người sẽ lại lâm vào luân hồi, nhờ vào nghiệp mà ta lưu lại lúc sinh thời, nhờ vào duyên sinh hòa hợp mà lại để tứ đại nương vào. Trong lúc đó, con người sẽ trải qua tám thứ khổ là sinh, lão, bệnh, tử, ân ái chia lìa, oán thù gặp gỡ, ước muốn không thành, thân tâm đều khổ.

Còn theo Ngũ Ấm Vô Ngã thì các nhà Phật gia cho rằng vạn vật  được hình thành và sinh ra theo quy luật duyên sinh và y tha khởi. Du cho sự vật có biến đổi vô thường, nằm trong nhiều hình thái khác nhau thì chúng đều do ngũ ấm hình thành. Trong đó, ngũ ấm bao gồm năm ấm là Sắc ấm, Thọ ấm, Tưởng ấm, Hành ấm và Thức ấm chính là Phật tính được bao bọc trong mỗi con người.

Chính Đức Phật cũng đã dạy rằng, tuy các ấm khác nhau về mặt hình thức nhưng cơ bản chúng giống nhau về mặt tính chất. Như thế, mỗi ấm đều là tâm Phật của ta, vậy một người có đến năm cái ta liệu có hợp lý? Nhưng thực ra, mối ấm sinh ra rồi đều sẽ bị diệt hay tan ra, chúng đều chợt hiện rồi lại chợt mất theo thời gian. Vì thế mà ngũ ấm bị kéo đi mãi theo vòng luân hồi của con người mà trở nên vô ngã.

Quan niệm vô ngã theo tư tưởng giải thoát

Quan niệm vô ngã theo tư tưởng giải thoát

 

Theo tư tưởng của Duy Thức, mối quan hệ giữa cái ngã hay chính là chúng ta với thực tại là sự liên hệ của nhận thức. Vì thế, cũng theo các nhà tư tưởng Duy Thức, đức tính của Phật khác biệt với bản tính của chúng ta. Hay chính là sự khác biệt giữa một người đã giác ngộ với người bình thường chưa được giác ngộ. Sự khác biệt này chủ yếu thể hiện qua mặt nhận thức hay tri thức của mỗi người. 

Chúng ta điều biết rằng, Phật có tri thức vô biên. Sự nhận thức của Ngài về thế giới đã vượt lên dự kiến, nằm ngoài quy kĩ. Vì thế mà ta thường nói người có Phật tính là người uyên bác và có tâm rộng lớn vì thế mà Phật biểu tượng cho sự thanh tịnh và một tâm trong sáng. Còn trái lại, với một người chưa giác ngộ, là một người bình thường thì tri thức của họ là có hạn và nằm trong một quy kĩ. Vì thế, Duy Thức cho rằng chỉ có Phật tâm là có nhận thức thực tại một cách chân thực nhất, còn tri thức của con người bị giới hạn bởi một số sự vật hiện tượng giả và chỉ hiện hữu tạm thời.  

Vô ngã là hình thức ẩn dấu cái ngã

Như đã nói từ đầu, mỗi người đều có cái ngã của mình hay chính là cái “tôi”. Theo quan điểm Phật giáo, cái ngã chính là sinh lão bệnh tử, khổ đau và ưu phiền. Ngược lại với cái ngã chính là vô ngã. Nó được cho là bất sinh bất diệt, bất biến và trường tồn vĩnh cửu hay vô ngã chính là hình thức nhận thức vượt khỏi vô minh. Cái “tôi” của con người rồi đến một ngày nào đó sẽ diệt, nhưng nếu rèn luyện và tu vô ngã lại không.

Phẩm hạnh hay theo từng kinh sẽ là Tứ Đại hay Ngũ ấm sẽ luôn sinh ra rồi lại diệt, trôi theo sự luân hồi liên tục mà nghiệp ta tu trong đời mà trở nên vĩnh hằng. Phật dạy ta vô ngã để có thể giải thoát con người khỏi cái ngã trần tục, giải thoát cái ngã của mỗi người khỏi sự sinh diệt và đi vào luân hồi của vô ngã.

Ý nghĩa của vô ngã

Ý nghĩa của vô ngã

 

Vô ngã là nhận ra thực tại vượt qua cái tôi của mỗi người, bỏ đi những ảo tưởng xa vời của nhân cách.

Pháp ấn Vô ngã mang một ý nghĩa rất lớn lao đối với các cao tăng và cả các phật tử. Nó xuất hiện trong một lần tu luyện cái tâm của mỗi người. Giúp chúng ta trong việc nhận ra thực tại vượt qua cái tôi của mỗi người, bỏ đi những ảo tưởng xa vời của nhân cách.

Ý nghĩa của vô ngã trong Phật giáo nguyên thủy

Theo Phật giáo Nguyên Thủy trước đây, người ta cho rằng chỉ có các nhà sư thấu hiểu thế gian mới thực sự hiểu biết về vô ngã. Và cũng chỉ có các nhà sư này mới có thể thực hành được nó, dù là cư sĩ hay những người theo đạo Phật cũng khó lòng mà nắm bắt được trạng thái này dù chỉ là cảnh giới tâm lý.

Cũng theo quan niệm này, các nhà sư là những người đã được thấy nhiều trải nhiều vậy nên họ thực hành được vô ngã, áp dụng được nó vào mọi sự vật hiện tượng. Nhưng đồng thời họ cũng từ chối mọi “cái tôi” của bất kỳ ai. Phật giáo nguyên thủy cho rằng, trạng thái niết bàn chính là trạng thái thực sự của vô ngã.

Tuy nhiên, quan niệm này lại gây ra một số tranh cãi xung quanh đó bời vì một số người lại cho rằng niết bàn là việc tu luyện đến một cảnh giới cao hơn của bản ngã đó là “bản ngã siêu việt”. Và những thầy tu niết bàn là họ không còn bị phụ thuộc hay tác động bởi bất cứ điều gì.

Ý nghĩa của vô ngã trong Phật giáo Đại Thừa

Còn theo Phật giáo Đại Thừa, người ta cho rằng sự vật hay hiện tượng vô ngã có nghĩa là nó có tính “không”. Và cũng theo Phật giáo Đại Thừa thì vạn vật trên thế giới này đều không có bản chất. Cũng bởi vạn vật không có bản chất nên có thể nói là không có gì thực sự tồn tại, sự vật và hiện tượng được sinh ra và tồn tại chỉ khi chúng có liên kết với các hiện tượng khác.

Phật tánh cũng là một trong những học thuyết của Phật giáo Đại Thừa nói về vô ngã. Trong đó, người ta cho rằng Phật tánh đều có ở mọi vật và thuộc về bản chất của nó. Như vậy có thể xem Phật tánh là một bản ngã hay không? Xung quanh vấn đề này cũng có những tranh cãi giữa hai trường phái.

Những người theo quan điểm của Phật giáo nguyên thủy cho rằng các nhà sư hay cao tăng Đại Thừa chỉ lấy Phật tánh ra làm lá chắn để lén lút nhân tâm về một bản ngã vĩnh cửu. Và cho rằng Phật tánh là một cái tôi vĩ đại chứ không phải vô ngã. Và đường nhiên các giáo sư của trường phái Đại Thừa phản bác lại rằng “Phật tánh không phải là một vật sở hữu mà Phật tánh là chính chúng ta”.

Vì thế, Phật giáo Đại Thừa cũng giải thích thêm về bản ngã rằng khi con người tu luyện hay càng hiểu rõ về bản thân mình thì “cái tôi” sẽ dần bị quên đi. Tuy nhiên nó không có nghĩa là con người sẽ mất kiểm soát hoàn toàn khi giác ngộ sự vô ngã mà có nghĩa là khi giác ngộ người ta sẽ không còn xem xét thế giới thông qua lăng kính chủ quan của bản thân và sẽ nhìn nhận thực tại một cách chân thực nhất. Điều này cũng có nghĩa là bạn đã có thể loại bỏ cái tôi, bỏ qua những ảo tưởng và dục vọng cố chấp của bản thân.

Ý nghĩa của vô ngã trong Ấn Độ giáo

Có thể nói Ấn Độ giáo có quan niệm khá giống với Phật giáo Đại Thừa hiện nay.Ho cũng cho rằng tâm trí và thân thể của một người thực ra không tồn tại và chúng không nên có sự gắn bó với một “bản ngã” nào. Mà chỉ có thể bằng cách tách rời với thế giới bên ngoài để trạng thái của cả tâm trí và thân thể mỗi người mới có thể đạt đến cảnh giới tự hấp thụ. 

Hay cũng có thể hiểu đơn giản rằng, để có thể thực hành được vô ngã, thì con người cần phải bắt đầu từ sự tĩnh lặng trong tâm để cả tâm và thân đều tiến vào trạng thái an tĩnh nhất. Trong đó, Phật giáo đề cao quá trình khổ hạnh của mỗi con người để chiêm nghiệm và không cần phải vượt qua sự im lặng của tâm thức. Còn Ấn Độ giáo lại muốn tiến sâu hơn vào sự siêu nghiệm để tìm ra bản chất thật. Khi kết thúc, hay khi đã nhận ra thực sự tồn tại là gì thì họ sẽ chìm vào giấc ngủ sâu.

Vì thế đối với những người theo tư tưởng của Ấn Độ giáo, họ cho rằng mục tiêu cao cả nhất là chấm dứt những ham muốn tục trần để đi đến sự hòa bình tuyệt đối. Đây là quá trình để họ khám phá ra bản chất thật của cả bản thân và sự tồn tại cũng như mối quan hệ của họ với Đấng tối cao. Do đó, khái niệm vô ngã trong Ấn Độ giáo chính là sự giải thoát của một con người đối với bản ngã của mình, khi cái tôi biến mất hoàn toàn thì họ sẽ hòa vào ngã vũ trụ giống như một giọt mưa nhỏ rơi xuống cả đại dương.

Các thuyết vô ngã

Các thuyết vô ngã

 

Mỗi thuyết của Phật giáo lại nhìn nhận vô ngã theo các góc độ khác nhau

Qua những phân tích trên, ta có thể hiểu rằng vô ngã còn có thể được xem như là một pháp (phép) để cho làm trong sạch cái tâm của mỗi người. Giúp ta có một cái tâm trống rỗng, giải thoát khỏi cái ngã – cái sinh ra tội nghiệt của một người. Vô ngã giống như một hình thức thanh lọc và hư không hóa tất cả các hữu tồn trong tâm mỗi người. Chỉ khi tâm trong sáng, tri thức mới hiện lên. Nhìn chung vô ngã có ý nghĩa như thế, nhưng tùy các các thuyết giáo của Phật pháp lại có những góc nhìn khác nhau về vấn đề này.

Thuyết Vô ngã trong Thượng Toạ bộ

Thượng Toạ bộ là một trong những nhánh lớn của Phật giáo mang nhiều ảnh hưởng và kế thừa nhiều tư tưởng từ Phật giáo nguyên thủy. Họ cũng là một trong nhiều người tiếp cận đến vấn đề về vô ngã. Những thiền sư theo Thượng tọa bộ dựa trên sự giải thích của thuyết Duyên khởi để tìm hiểu về vô ngã. Theo đó, họ cho rằng, mọi sự vật hay hiện tượng đang hiện hữu bao gồm cả con người với trí tuệ của mình đều được hình thành qua một tiến trình kết hợp bởi những tính chất đặc thù, được gọi là Pháp.

Các cao tăng của Thượng tọa bộ cho rằng có 2 tiến trình của Pháp. Bao gồm tiến trình bên trong chỉ những hiện tượng xảy ra nằm ở nội tâm của con người, đó là sự chuyển biến liên tục của những dòng suy nghĩ trong tâm thức mỗi người. Bên cạnh tiến trình bên trong, ta còn có tiến trình bên ngoài là chính là cơ sở cho sự tái sinh. Ví như lúc ta được sinh ra cho đến lớn lên chịu qua nhiều “khổ” tạo nên những “nghiệp” riêng rồi “giải thoát”. Tất cả các quá trình này đều nằm trong một chủ thể rồi từ chính những kinh nghiệm đó, con người tích lũy “nghiệp” của mình rồi lại tiếp tục tái sinh. Và thân thể của con người chỉ là một khối được hợp nhất từ đó mà không có một thực thể nào.

Theo tinh thần bát nhã, vô ngã là không tướng các pháp

Theo tình thần bát nhã, mọi quá khứ (khổ ách) của một người đều là hư không vì thế mà chúng ta không bao giờ có thể chạm tới. Còn thực tại đang diễn ra bây giờ thì chỉ là giả lập do sự vận động và kết hợp của ngũ ấm mà ta đã nói ở trên. Vì thế, hiện tại bây giờ chỉ là giả lập còn quá khứ thì không còn nữa vậy nên sự đau khổ đến từ quá khứ kéo dài cho đến giờ chỉ là những ảo giác nằm trong tâm trí của con người mà thôi.

Vậy thì có một câu hỏi là “bản ngã” liệu có phải thuộc ngũ ấm hay không? Ngũ ấm đã tạo ra năm cái tôi của mỗi người? Không thể! Bởi vì cái tôi không thể bám vào bất cứ các hạt của vũ trụ chợt có chợt không vì nó là bất biến. Nhưng quá khứ thì không còn, tương lai còn chưa đến vậy thì cái tôi nằm ở đâu? Chỉ còn hiện tại đề con người có thể tồn tại, họ phải có một bản tính rõ ràng với những đặc trưng khác biệt. Nhưng nó không có một hình dáng cụ thể nào, không màu sắc càng không hương vị, nên nó chỉ bám vào ngũ ấm để có thể hiện lên bên trong của thân thể mỗi người.

Nếu suy nghĩ như vậy, thì tinh thần bát nhã sẽ giúp con người có thể xem nhẹ đi “cái tôi” của mình. Cái tôi chỉ là một vật bám víu chứ không phải là một điều gì tối thượng mà chúng ta phải tuân theo để cho thấy sự yêu ghét hận thù gì. Chính vì cảm giác về cái tôi quá mãnh liệt của một số người làm họ tách rời khỏi thế giới thực tại, làm đẩy cao lên những suy nghĩ hay tình cảm lệch lạc dẫn đến những hành động hay lời nói gây ra đau khổ. Khám phá triệt để cái tôi tìm thấy được sự vô ngã là tìm được sự giải thoát cho thân tâm vì thế mà ngũ ấm có tánh không hay ta còn gọi là ngũ ấm vô ngã.

Lợi ích của vô ngã

Lợi ích của vô ngã

 

Vô ngã là pháp ấn giúp con người có tâm trong sáng trong cả đời sống hàng ngày và cả trong quá trình tu luyện đắc đạo

Vô ngã không phải chỉ là một lý thuyết suông hay chỉ là một pháp ấn chỉ dành cho những người tu đạo mới có thể sử dụng. Vô ngã còn có thể được áp dụng vào đời sống hàng ngày, là biện pháp tốt để giúp con người tu luyện được cái tâm trong sáng. Là tiền đề để giúp người ta có thể sống an lạc.

Trong đời sống hàng ngày

Cuộc sống hiện thực cho ta thấy rất rõ những ưu phiền khổ não của con người. Thói sân si, giận hờn, ghét bỏ hay suy nghĩ tiêu cực luôn âu lo đều là từ những chấp ngã của con người mà ra. Sống chỉ chăm chăm vào bản thân, tham lam cho bản thân gia đình quên đi xã hội cộng đồng. Thấy người khác hơn mình thì lại sinh ra thói sân si giả tạo, cố đì người ta xuống để chứng tỏ cái tôi tuyệt đối. Ghét người khiến người không ưa, làm phật lòng người cũng là đang làm lòng ta bực bội khó chịu hơn. Con người còn chấp ngã nhiều chừng nào thì đến khi đó vẫn còn vướng vào những đau khổ. Và ngược lại, vô ngã nhiều chừng nào thì tâm bớt khổ chừng đó.

Cũng vì cái ngã muốn vơ về và thế hiển bản thân càng nhiều mới càng sinh ra thêm nhiều khổ ách khác. Lo mất nhà cửa, sợ hết tiền tiêu, ai mà đụng đến tài sản quyền lợi của mình thì lại nổi sân lên, không sân được thì lại càng lo được lo mất. Người tu đến vô ngã là người không còn chấp nhất với tiền bạc tài sản thì khi mất mát sẽ không còn đau khổ bằng người chấp ngã nữa.

Chấp ngã còn là ép người phải theo ta, ý kiến của ta là tuyệt đối, là luôn đúng rồi lại sinh ra cái nhau, hơn thua những suy nghĩ ganh đua, rồi lại tranh chấp phải trái. Lời qua tiếng lại làm nứt vỡ tình cảm, tệ hơn là dẫn đến đánh nhau lại thêm thua thiệt về thân xác. Người tu tính vô ngã là người luôn khiêm cung, không cần phải khoe khoang ích kỷ. Đó mới là người được mọi người thương mến và tôn trọng. Tu nhưng còn chưa thành thục thì người này sẽ còn bị đau khổ vì những lời nói gây tổn thương. Nhưng đã có một cái tâm trong sáng rồi thì dù là lời nói như dao cứa thì lòng ta vẫn sẽ sáng như gương. Chính vì thế mới có ý kiến cho răng, tu vô ngã là đi đến niết bàn, niết bàn rồi thì lòng sẽ không bao giờ còn thấy được đau khổ nữa.

Trên đường đạo

Đã là người đi theo con đường tu đạo, thì điều cần thiết nhất là một cái tâm thuần khiết và bỏ ngoài tai những định kiến. Vì thế, tu vô ngã là một điều rất quan trọng và cần thiết. Nhưng cũng đừng vì bất chấp tu hành mà lại sinh ra cố chấp, càng ngày lại càng rời xa con đường đạo.

Tu vô ngã là để hướng người theo đạo hướng đến điều thiện, việc thiện từ tâm như là bố thí, không mong cầu hồi đáp điều gì. Tu để giữ giới luôn tự nhiên không còn bị gò bó hay cấm đoán. Nhẫn nhục càng là một điều cần thiết phải giác ngộ khi tu vô ngã. Không bị mê hoặc bởi những ý niệm cố chấp, để có thể thốt lên rằng ý niệm đó xuất hiện cũng chỉ là tạm thời mà thôi. Vô ngã còn là con đường đi đến trí tuệ của đường đạo, để tiếp nhận những giác ngộ với cái tâm trong sáng nhất mà không hiểu sai lệch đi tư tưởng được truyền thụ đó.

Tu vô ngã còn là để hành Bồ tát đạo, để người tu hành cứu độ chúng sinh nhưng không cho bản thân mình là người đi phan hát hay chúng sinh là người nhận được ân huê. Vì nhớ được cái tâm vô ngã nên Bồ tát mới sẵn sàng xả thí thân mạng, ra vào sinh tử, chịu đựng khổ đau để cứu khổ chúng sinh.

Bạn cần tư vấn thiết kế nhà thờ họ hoặc những công trình kiến trúc tâm linh có thể liên hệ với Acc Home theo số điện thoại 0977. 703 776 hoặc hòm thư điện tử thietkenhathohodep@gmail.com các kiến trúc sư của chúng tôi sẽ giúp bạn có những không gian hoàn hảo nhất.